truyện dài
      VẾT THƯƠNG NGÀY CŨ
      CHƯƠNG 1
         
              Ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa sau gần hai tháng chữa trị vết thương, Ðăng đứng lại bên đường đón xe về nhà. Nhìn lại những dãy nhà ngói đỏ ở phía bên kia đang tràn ngập ánh nắng, Ðăng cảm thấy như mình vừa được tái sinh, lòng rộn rã một niềm vui. Bầu trời rất xanh, như chưa bao giờ Ðăng nhìn thấy trời xanh đến thế! Nhưng niềm vui thật mong manh, chỉ một lúc sau Ðăng cảm thấy mệt mỏi trở lại, nghĩ đến một phần lá gan và một khúc ruột đã bị cắt vì mấy viên đạn A. K. cày nát, chàng chợt nhớ đến Lực, bị bắn nát ngực, đã chết cũng vì loạt đạn ấy, và cảm thấy thương Lực vô cùng. Bây giờ hắn đã nằm yên ở một nơi nào đó, thân thể chắc đã bắt đầu rữa nát để lộ bộ xương trắng. Ðôi mắt Lực, đôi mắt đen long lanh, mỗi khi Lực nói đến một điều gì thú vị, giờ chỉ còn là hai cái hốc mắt tối tăm. Tiếng gọi đằng sau lưng làm ý nghĩ Ðăng đang đeo đuổi bị cắt đứt:
              -Thầy "đi" không?
              Ðăng chợt nhận ra chàng đang đứng gần mấy cái ổ điếm trước cổng bệnh viện, quay lại trả lời:
              -Mới xuất viện, "đi" để chết sao em! Ruột đứt năm, bảy đoạn rồi, ráng nữa nó đứt lại thì chỉ có đem chôn thôi!
              Cô gái thất vọng bỏ đi, một chiếc xe lam trờ tới. Ðăng bước lên. Xe chật cứng, chàng phải cố gắng lắm mới ngồi lọt vào khoảng trống còn sót lại ở cuối "băng", hai tay cố thu cho gọn đặt trên đầu gối. Cánh tay Ðăng đặt sát nách cô gái ngồi bên, chàng cố thu mình lại nhưng vẫn cảm thấy mồ hôi của cô ta thấm qua áo chàng. Ðăng quay lại để nhìn cho rõ mặt cô gái, khuôn mặt nàng khá đẹp cũng đang rịn mồ hôi. Vẻ đẹp của cô gái ngồi bên khiến Ðăng cảm thấy dễ chịu hơn với chỗ ngồi chật hẹp của mình. Về đến nhà Ðăng mới biết là mẹ Ðăng đã lên bệnh viện để đón chàng, Lan và Tường đã đi học và chỉ có một mình Bích ở nhà. Ðăng hỏi:
              -Sao hôm nay mày không đi làm?
              -Em nghỉ một hôm để ở nhà mừng anh xuất viện.
              Ðăng cảm động không nói gì, chàng còn là người may mắn, xuất viện có mẹ đi đón, có em vui mừng. Biết bao nhiêu người không hề được ai hỏi han tới, ngay cả những ngày nằm trong bệnh viện. Ðã lâu Ðăng mới lại trở về Sài Gòn, trở về thăm nhà, Ðăng ít khi nào nhận ra sự thay đổi của thành phố, nó vẫn như vậy kể từ khi Ðăng lớn lên đến giờ. Nhưng chàng nhận ra rất dễ dàng sự thay đổi dù rất nhỏ trong nhà mình, từ bộ bàn ghế, cho đến những cây mới được trồng thêm trong khu vườn nhỏ sau nhà.
              -Anh có tắm để em đun nước cho anh?
              Tiếng nói của Bích làm Ðăng giật mình quay lại:
              -Bày đặt nước nóng làm gì, tắm nước lạnh cũng được.
              -Người yếu tắm nước lạnh, bệnh chết!
              Bích đi xuống bếp nấu nước, còn lại một mình Ðăng ngồi ở phòng khách nhìn ra ngoài đường. Một chiếc xe taxi ngừng lại trước cửa, bà Khôi bước xuống, gặp Ðăng bà reo lên:
              -Con về hồi nào? Sao không chờ bố mẹ đến đón?
              Ðăng đứng lên chạy lại phía mẹ chàng:
              -Con mới về được một lúc, mẹ đi đón con làm gì, con về một mình được mà. Con khoẻ rồi.
              -Bác sĩ nói sao?
              -Con sẽ ra hội đồng y khoa, có lẽ sẽ giải ngũ.
              -Thôi thế cũng may!
              Nghe nói Ðăng sẽ giải ngũ, bà Khôi rất mừng, nhưng ông Khôi thì không vui. Ông biết bị thương trầm trọng lắm mới được giải ngũ, giải ngũ trong trường hợp ấy thì biết làm ăn ra sao. Vả lại, mộng của ông là con ông sẽ tiến thân bằng binh nghiệp. Nếu may mắn Ðăng lên cấp tá, rồi cấp tướng.Và biết đâu, trời có cấm ai, ông thường nghĩ thế, con ông sẽ làm một cuộc đảo chánh, rồi lại lên làm tổng thống, và ông sẽ thành thứ thái thượng hoàng đời nay. Lịch sử nhố nhăng gần đây đã làm cho ông Khôi có những mơ ước viển vông, nhiều lúc ông đã nói lên cái mơ ước của mình cho vợ con nghe, nhưng mọi người đều tưởng điều ông nói chỉ là nói chơi, nào ngờ đó lại là điều ông nung nấu trong lòng.
              Trong bữa cơm chiều, mọi người đều vui vẻ cười nói. Riêng ông, ông ăn uống uể oải, chỉ thỉnh thỏang mới nói góp một câu vào câu chuyện gia đình. Vừa ăn cơm xong thì Nguyệt đến. Nguyệt, cô em họ của Ðăng, người đã giúp Ðăng chinh phục Quyên, và rồi say đắm mối tình ấy trong hạnh phúc lẫn đắng cay.
              Ngày Ðăng miệt mài với cuộc chiến, nay đây mai đó đã làm mối tình tan vỡ. Nàng lấy chồng, một giáo chức trung học, và bây giờ nàng ở đâu với người chồng của nàng Ðăng cũng không biết. Ðăng chợt thấy nhói đau ở ngực khi nhớ đến Quyên, một mối tình tưởng đã chìm sâu trong dĩ vãng bỗng sống lại mãnh liệt như chưa bao giờ mãnh liệt đến thế. Ðăng bất ngờ hỏi một câu mà chính chàng không chủ định:
              -Quyên vẫn hạnh phúc chứ ?
              Nguyệt cười, trả lời không ăn nhập gì đến câu hỏi:
              -Thỉnh thoảng nó vẫn hỏi thăm anh.
              Vẫn hỏi thăm, có thật như thế không ? Hay Nguyệt chỉ nói cho Ðăng vui.
        Giá Nguyệt trả lời Quyên không được hạnh phúc với người chồng ấy, chắc sẽ làm Ðăng vui hơn. Ðăng chợt hổ thẹn khi nghĩ đến những mối tình đẹp, khi tan vỡ người ta thường cầu mong cho nhau được hạnh phúc như trong tiểu thuyết thường viết. Sao Ðăng lại cầu mong cho Quyên đau khổ? Chàng khám phá ra lòng ti tiện, nhỏ nhoi của tâm hồn mình. Thật Quyên đã không lầm khi bỏ chàng để đi lấy chồng. Lấy Ðăng chỉ là lấy một người đàn ông có tấm lòng hẹp hòi, ích kỷ.
              -Anh thông cảm cho nó, nhà nó nghèo qúa mà gia đình Thẩm lại qúa giàu, gia đình nó sống được nhờ sự giúp đỡ của Thẩm. Trong hòan cảnh ấy, từ chối lời cầu hôn không phải là điều dễ dàng.
              Nghe Nguyệt nói, Ðăng đùng đùng nổi giận, mặt đỏ gay, nhưng biết là nếu nói, chàng sẽ nói những điều rồ dại nên im lặng móc thuốc ra hút, mắt nhìn ra ngoài khu vườn trước mặt. Ðăng bỗng cảm thấy chàng giận Nguyệt như giận Quyên. Nguyệt bênh vực Quyên thì Nguyệt cũng như Quyên, lọai người chỉ biết chạy theo đồng tiền. Một lúc sau Ðăng mới nhận ra được chàng giận Nguyệt là điều vô lý, một thái độ giận cá chém thớt, nên cố tươi cười hỏi Nguyệt:
              -Còn cô, bao giờ thì lấy chồng đây?
              -Em hả? Chồng con gì! Quen ông nào được ít lâu rồi cũng lại vào lính, đi xa lắc, Kontum, Phú Bổn, Quảng Trị, cả năm chẳng được gặp nhau một lần. Trong hoàn cảnh ấy, chồng con vào chỉ thêm khổ. Em đang tính chuyện đi tu, chán tất cả mọi thứ rồi!
              Ðăng ngạc nhiên nhìn Nguyệt. Nguyệt sẽ đi tu? Một cô gái như Nguyệt mà đi tu được sao? Nguyệt nói chơi hay nói thật? Ðăng chợt nhớ ra, trong qúa khứ có lần chàng cũng muốn đi tu, nhưng tư tưởng ấy chỉ chợt thoáng qua trong đầu và sau đó chàng nhận ra ngay chàng sẽ không bao giờ tu được. Ðăng hỏi Nguyệt, giọng ngờ vực:
              -Nói chơi hay nói thật đây?
              -Thật chứ anh, em còn đang thu xếp một số công việc còn lại, khi nào xong em sẽ đi.
              Hai người đang ngồi nói chuyện thì ông Khôi đi ra, thấy ông ăn mặc trịnh trọng, Nguyệt hỏi:
              -Bác đi đâu mà ăn mặc sang thế?
              -Ði thăm một người bạn để bàn công việc làm ăn, cháu ở đây chơi nhé! À, bố mẹ cháu có khoẻ không?
              -Bố mẹ cháu cũng vẫn thường.
              Ông vừa bước đi vừa nói:
              -Hôm nào bác sẽ đến chơi.
              Khi ông đi rồi Nguyệt quay sang hỏi Ðăng:
              -Nghe nói anh gần được giải ngũ phải không?
              -Có lẽ vậy, phải ra hội đồng y khoa mới biết được.
              -Anh may qúa! Vậy là từ bây giờ trở đi anh chẳng phải lo gì chuyện lính tráng nữa.
              -Thế này cũng đủ qúa rồi còn gì nữa? Ðứt năm, bảy khúc ruột, cắt mất một phần gan cho cuộc chiến mà còn may hay sao?
              Nguyệt cười:
              -May chứ, biết bao nhiêu người mất hết chứ không phải mất một phần như anh!
              -Thôi cứ cho là may đi. Nhưng nói thật với cô, tôi quen đời sống quân ngũ rồi, về lại đi sống dân sự thấy khó khăn như ngày nhập ngũ vậy.
              -Cái đó thì ai cũng vậy, nhưng rồi sẽ quen, chuyện gì còn quen được nữa là...
              Ngồi chơi một lúc rồi Nguyệt về. Còn lại một mình Ðăng trong phòng khách, chàng quan sát những vật dụng ở chung quanh. Sau thời gian gần một năm mới về thăm nhà, vật dụng trong gia đình đã có nhiều đổi mới mà mấy hôm trước còn bận rộn chuyện này chuyện khác Ðăng không để ý. Ngay cả căn nhà bố mẹ Ðăng cũng đã sửa đổi, xây thêm, nới rộng nhiều nơi. Ðiều này chứng tỏ bố mẹ Ðăng đang trong thi kỳ ăn nên làm ra.
              Những thay đổi ấy làm Ðăng có cảm tưởng lạ lẫm với ngay chính căn nhà, nơi chàng đã sinh ra và lớn lên. Chỉ có khu vườn và khung cảnh chung quanh là không thay đổi bao nhiêu, và chính những khung cảnh, hình bóng cũ này đã nhắc nhở Ðăng những ngày còn cắp sách đến trường. Chàng nhớ đến những buổi trưa, khi bố mẹ Ðăng đã vào phòng riêng để nghỉ, chàng và Bích cùng Thủy, cô bé láng giềng, thường leo lên những cây xoài, cây ổi cuối vườn hái qủa ngồi ăn.
              Ðăng không còn nhớ chàng bắt đầu chơi với Thủy từ khi nào, có lẽ từ ngày Thủy còn bé lắm, vì không ai còn nhớ được những ngày ấy. Chỉ biết rằng, từ khi bắt đầu có trí nhớ Thủy đã hiện diện trong những trò chơi của Ðăng. Hình ảnh Thủy cũng thay đổi theo thi gian, từ mái tóc búp bê, đổi sang đuôi ngựa, rồi tóc thề và cuối cùng là mái tóc uốn cụp lại che bớt khuôn mặt hơi bầu bĩnh của nàng.
              Nhưng thời gian đã làm hai người ngày một xa cách, Thủy càng lớn càng ít sang chơi nhà Ðăng. Và chính Ðăng cũng ra khỏi khu vườn ấu thơ để chạy nhảy ngoài đường phố với lũ bạn cùng tuổi. Ðăng bỗng ngạc nhiên không hiểu tại sao với khoảng thời gian quen biết lâu dài đến như vậy mà khi lớn lên Ðăng lại không yêu Thủy. Cái gì ngăn trở hai người để rồi tình bạn ấu thơ không thể trở thành tình yêu được?        Ðăng cũng ngạc nhiên với chính mình, bỗng dưng Ðăng lại nghĩ về Thủy, một hình ảnh hầu như đã lu mờ.
              Trong một khỏang thời gian dài dằng dặc từ khi lớn cho đến khi vào lính, rồi lặn lội khắp các chiến trường nóng bỏng của miền Trung, Ðăng ít khi nào nhớ đến nàng, có khi quên hẳn, nay bỗng trở về với những nuối tiếc vu vơ. Bất giác, Ðăng nhìn sang nhà Thủy, ngôi nhà mái tôn dựa lưng vào khu vườn nhà Ðăng, đang sáng rực lên trong nắng quái buổi chiều. Mấy cây dừa trong khu vườn nhà nàng, ngọn cao vút, in hình trên bầu tri, đang đong đưa trước gió.
              -Hay sang chơi nhà Thủy một chút?
              Ý nghĩ ấy chợt đến, nhưng Ðăng gạt ngay đi vì cho rằng kỳ cục. Ðã lâu lắm Ðăng có gặp nàng đâu, cả hai người đều không hỏi thăm gì nhau dù chỉ là lời nhắn.

        *

        *       *

              Mới bước chân vào nhà, Ðăng đã biết có chuyện chẳng lành xẩy ra . Mẹ chàng đang ngồi gục mặt khóc ở góc phòng khách. Bố cũng đang ngồi đấy, hút thuốc liên tiếp, nhưng không nói gì. Ðăng cảm thấy như vết thương cũ trong bụng quặn đau, chàng đi thẳng vào phía trong, thấy Bích, Lan, Tường, mỗi đứa ngồi một góc, mặt ủ rũ. Ðăng hỏi Bích:
              -Chuyện gì thế?
              Bích ngước lên, Ðăng thấy đôi mắt em còn ướt, nàng đáp rất nhỏ:
              -Bố mẹ cãi nhau.
              -Mà chuyện gì mới được chứ?
              -Bố dạo này đi chơi khuya hoài, có khi đêm không về, nghe nói thuê nhà riêng ở với cô nào đó.
              Ðăng lặng người. Bố Ðăng, dưới mắt chàng, là một người đàn ông đàng hoàng, đứng đắn, đạo đức nữa, thế mà bây giờ trở tính. Ðăng cứ tưởng, nếu người ta có chơi bời, bê tha, thì chỉ bê tha ở tuổi thanh niên thôi. Ai ngờ...
              Ðăng hỏi mấy đứa em:
              -Tụi bay ăn cơm chưa?
              Bích trả lời thay:
              -Rồi, anh ăn cơm đi, tất cả sẵn sàng ở dưới bàn ăn. Em đã phần cơm mẹ. Còn bố, chắc là ông không ăn cơm ở nhà đâu.
              Ðăng bỏ xuống nhà dưới, nơi đặt bàn ăn, phần ăn của chàng, Bích đã lấy lồng bàn úp lại ở giữa bàn. Ðăng ngồi nhai cơm u oải. Mấy hôm trước Ðăng ăn đã thấy ngon miệng trở lại. Nay gặp chuyện buồn, miếng cơm nhai trong miệng trở thành đắng nghét. Xã hội bây giờ nát qúa, nhìn đâu cũng thấy những chuyện không ra gì. Bà dì của Ðăng có căn nhà cho lính Mỹ thuê, dần dần bà trở thành người buôn bán hàng Mỹ. Khi thằng Mỹ trở về nhà, bà lại vào trong phòng của nó, đóng cửa lại, nghe nói để thanh toán tiền nong. Ông chồng đứng ngoài nhìn vào hậm hực, nhưng ông vốn hiền lành nên chỉ hậm hực thôi mà không dám làm gì. Cảnh đi trái khoáy là vậy, được người nọ mất người kia.
              Ðăng cố nuốt trôi mấy miếng nữa rồi đứng lên về phòng nằm. Ðăng bỗng ao ước được trở lại đơn vị chiến đấu. Mới trở về đi sống dân sự ít ngày đã thấy chán ngắt, ngày dài lê thê, muốn giết thì giờ nhưng chẳng biết giết bằng cách nào.
              Bên ngoài, trời đang tối dần. Khung cửa sổ phòng Ðăng chỉ còn in một khoảng trời đã đổi sang màu đen, vài ngôi sao hiện ra bắt đầu lấp lánh. Bên nhà Thủy đã thấy ánh điện hắt qua khung cửa, làm sáng một khỏang hàng rào dâm bụt, mà bây giờ dưới ánh đèn yếu ớt, hoa của nó không còn đỏ thắm nữa mà ngả sang màu nâu.
              Ðăng đang nằm nghĩ lan man từ chuyện này sang chuyện khác thì Bích sang, nàng hỏi câu Ðăng không ngờ:
              -Anh nghĩ cảnh nhà mình chán không?
              Ðăng không biết trả lời thế nào, chỉ cái ghế ở bên giường nói với em:
              -Mày ngồi xuống đây.
              Một lúc sau Ðăng mới nói tiếp:
              -Có gì mà phải chán. Gia đình nào dù êm ấm hạnh phúc đến đâu thì cũng có khi lục đục. Người ta nói: "Bát, đĩa trong chạn còn có khi xô" là vậy.
              -Anh mới về anh chưa biết đâu. Bố mẹ cãi nhau hoài, chẳng mấy khi không có chuyện. Tội nghiệp Lan và Tường, mỗi khi thấy bố mẹ cãi nhau, tụi nó ngơ ngác không biết làm gì. Còn em thì cũng buồn qúa, chạy xe lang thang ngoài phố, chờ cho sóng gió qua đi rồi trở về. Nhiều lúc, nói thật với anh, em muốn tìm cách xin đổi đi nơi khác, đến một tỉnh lẻ nào đó chẳng hạn, sống một mình cho yên thân, nhưng rồi vẫn không quyết định được vì thấy tội nghiệp Lan và Tường quá.
              -Thôi bỏ qua chuyện đó đi, nghĩ ngợi làm gì những chuyện mà mình không thể nào giải quyết được.
              -Em cũng đâu muốn nghĩ về chuyện ấy cho mệt, nhưng khổ nỗi chuyện xẩy ra trước mắt, mình không nghĩ cũng không được. Những chuyện xẩy ra giữa bố mẹ làm em kinh ngạc. Chuyện tình của bố mẹ trong họ mình ai cũng biết, ông bà lấy nhau vì yêu nhau, thế mà bây giờ thành ra như vậy. Trước đây, bố sống cuộc đời mẫu mực, ngày ngày đi làm, chiều chiều về với vợ con, ăn hàng ăn quán cũng không muốn, chỉ thích những món do vợ nấu thôi. Thế mà nay đổi tính, không thiết tha gì đến chuyện gia đình nữa, suốt ngày bỏ nhà ra đi, say sưa rượu chè, vợ nọ con kia. Thật sự em không hiểu. Bộ đàn ông là như vậy sao?
              -Mày hỏi khó qúa làm sao tao trả lời được, muốn giải thích phải hiểu rõ vấn đề. Giữa bố mẹ có thể có vấn đề gì đó mà con cái không thể biết hết được. Ðó là yếu tố chủ quan. Còn những yếu tố khách quan cũng có thể tác động làm thay đổi con người. Xã hội bây giờ nhìn vào đâu cũng thấy đổ vỡ, mất mát, xáo trộn. Chiến tranh đã làm cho mọi người mỏi mệt, chán nản, không còn muốn xây dựng gì nữa nên buông xuôi. Mọi người đều chạy theo những thú vui tạm bợ, ngắn ngủi, mong tìm quên, mong chạy trốn những đe dọa trước mắt. Ảnh hưởng của xã hội hỗn loạn tác động lên cả đàn ông lẫn đàn bà. Mày có biết chuyện dì Qùy buôn bán hàng Mỹ không? Bà ấy trước đây đâu có phải là người lăng loàn, trắc nết mà bây giờ bỗng vậy!
              Hai anh em đang nói chuyện thì thấy mẹ vào, cả hai đều im bặt. Bích nói với mẹ:
              -Mẹ đi ăn cơm đi, con để phần cơm mẹ ở dưới bàn ăn. Hay mẹ muốn ăn ở trên này để con bưng lên. Bà Khôi gạt đi:
              -Thôi cứ để đấy lúc nào mẹ đói thì ăn, bây giờ mẹ không ăn nổi.
              Bích nhìn mẹ, e dè hỏi, giọng thấp hẳn xuống:
              -Bố con đâu?
              -Ði rồi, chắc lại đến nhà con đĩ đó!
              Nói xong bàÕ bỏ ra ngoài, uất nghẹn lại muốn ứ lên tận cổ, nếu bà đứng lại bà sẽ khóc trước mặt con cái nên bà phải bỏ đi chỗ khác.
              Bà không ngờ bây giờ chồng bà lại tệ đến như vậy, ăn ở với một cô gái chỉ đáng tuổi con bà. Người đàn ông mà bà tưởng suốt đi sẽ sống bên cạnh vợ con, sống cuộc đi mẫu mực, nào ngờ chỉ trong khoảng thời gian ngắn đã thay đổi đến như vậy.
              Nhiều đêm bà nằm khóc âm thầm, không muốn cho con cái biết nỗi đau khổ của mình, nhưng rồi sự đau đớn to lớn qúa bà không còn kiềm chế được nữa, bà nức nở, bà khóc như một đứa trẻ bị lấy mất phần kẹo mà đáng lẽ nó được hưởng. Nhiều lúc bà nghĩ, cứ để mặc ông muốn làm gì thì làm, chán rồi sẽ trở về với bà. Ai ngờ ông càng ngày càng say mê người ta! Phải rồi! Nó còn trẻ, còn đẹp, chứ đâu như bà, tóc đã bạc, da đã nhăn nheo. Người đàn ông mà ngày xưa bà vừa yêu vừa kính trọng vì tính nết bao nhiêu thì nay lại tỏ ra đốn mạt bấy nhiêu. Nhiều lúc nghĩ khùng, nghĩ điên, bà muốn cầm dao chạy đến đâm chết cả đôi gian phu dâm phụ. Nhưng rồi bà chỉ nghĩ đến điều ấy mà biết là mình không bao giờ làm được.
              Bà Khôi trở lại phòng khách, ngồi lại trên cái ghế mà lúc nãy bà đã ngồi, thẫn thờ nhìn ra ngoài đường với đôi mắt tuyệt vọng.
              Trong phòng, Ðăng nhìn thấy mẹ, nói với Bích:
              -Mày ra an ủi mẹ rồi đem cơm cho mẹ ăn. Con gái nói chuyện với mẹ tiện hơn, chứ tao chẳng biết nói gì bây giờ.
              Bích nghe lời chạy ra. Ðăng nghe tiếng nói của Bích nhưng không rõ là Bích nói gì. Một lúc sau Ðăng thấy Bích chạy xuống bếp lấy cơm lên cho mẹ.
              Từ khi trở về thấy những chuyện lục đục trong gia đình Ðăng đang chán nản còn cảm thấy chán nản hơn.
              Ðăng nhớ lại giây phút đầu tiên nhìn lại ngôi nhà cũ, chàng thấy mọi vật dụng trong nhà đã được thay đổi, đều là những thứ mới và đắt tiền, chàng mừng vì bố mẹ ăn nên làm ra. Ai ngờ, chính trong cái cảnh đời sung túc ấy lại gây ra lắm chuyện oái oăm, khiến cho những người giàu trí tưởng tượng nhất cũng không thể ngờ.
              Ðăng nhớ lại hình ảnh dì Qùy ngày xưa, ngày Ðăng chợt đến thăm vợ chồng dì, thấy bà chăm sóc ông như một người vợ hiền thục nhất chăm sóc chồng mình. Nhưng thời gian đã làm thay đổi tất cả. Ðăng đã từng nghe người ta kể lại, một lần họ đã chứng kiến bà mắng mỏ ông chồng như mắng mỏ con cái với ngôn ngữ đầu đường, xó chợ.
              Ðêm hôm đó Ðăng trằn trọc mãi mới ngủ được, khi ngủ lại mộng mị những điều không đâu vào đâu.       Ðến khi tỉnh dậy thì bên ngoài ánh nắng đã tràn xuống nửa sân xi măng phiá trước. Bóng một cây dừa in giữa mảnh sân nắng lay động chập chờn. Bầu trời xanh ngắt không vẩn một gợn mây. Ðăng nằm yên nghe ngóng, trong nhà không một tiếng động, chắc là Bích đã đi làm, Lan và Tường đã đi học và mẹ chàng đã đi đâu đó, có thể đã đi chợ hay đến nhà một người nào quen gần đây. Ðăng định lên tiếng gọi xem có ai ở nhà không nhưng rồi lại thôi. Ðăng nhớ đến những buổi sáng chủ nhật ngày xưa, những buổi sáng nhàn rỗi, mở mắt ra mà biết được rằng mình sẽ được nghỉ ngơi, không phải bận rộn bất cứ công việc gì và cảm thấy thú vị vì sự được nhàn rỗi ấy. Bây giờ sáng nào cũng là sáng chủ nhật đối với Ðăng, nhưng chàng không còn được hưởng cái thú vui rộn rã trong lòng mỗi sáng chủ nhật của những ngày niên thiếu. Tệ hơn nữa là Ðăng còn cảm thấy cơ thể hình như đã mệt mỏi ngay khi ngày mới bắt đầu. Cái mệt hình như chứa chất sẵn trong thân, bất cứ lúc nào cũng có thể cảm thấy mệt, nó đến bất ngờ không bao giờ báo trước. Nghe tiếng động, Ðăng ngóc đầu nhìn ra, hỏi:
              -Ai đó?
              -Tao, bố đây. Mẹ mày đâu rồi?
              Ðăng nói vọng ra:
              -Con không biết, ngủ dậy thì thấy mọi người đã đi đâu hết.
              Ðăng nằm xuống lại, định không nói gì nữa, nhưng bất ngờ chàng hỏi một câu làm chính chàng cũng ngạc nhiên:
              -Ðêm hôm qua bố đi đâu mà không về?
              Hỏi xong Ðăng mới biết là mình lỡ lời. Có thể ông sẽ nổi cáu và trả lời chàng: "Tao muốn đi đâu thì đi, việc gì đến mày? Tao là bố chứ không phải con mày mà mày hạch hỏi". Nhưng không hiểu tại sao ông không trả lời, rồi một lúc sau có tiếng xe Honda nổ máy và rồi tiếng máy nhỏ dần. Ðăng biết là ông đã đi.
              Khi biết chắc là bố đã đi rồi, Ðăng trở dậy, chàng rất ngại chạm mặt bố trong lúc này. Nghe nói ông đang ở với một người đàn bà còn trẻ lắm, chỉ hơn Bích mấy tuổi, nghĩa là bằng tuổi Ðăng, thảo nào mà ông mê đến như vậy!
              Ðăng lắc đầu xua đuổi những ý nghĩ làm bận bịu đầu óc mà chàng biết là rất vô ích khi nghĩ đến. Thấy đói bụng, Ðăng xuống bếp lục lọi trong tủ lạnh xem có gì có thể ăn được không, nhưng rồi chàng thất vọng, không có gì có thể ăn được ngay nếu không nấu nướng. Ðăng trở lên nhà, vội vàng thay quần áo rồi ra ngoài phố.
              Mới buổi sáng ánh nắng đã gay gắt, Ðăng không biết là do sức khoẻ, chàng chưa hoàn toàn bình phục, nên cảm thấy như vậy hay là nắng gay gắt thật sự. Ðăng bỗng nhớ đến những ngày hành quân, đi hết ngày này sang ngày khác, có khi đang nắng gay gắt trời chuyển mưa nhưng chỉ mưa lất phất, nên khi hết mưa oi bức còn tăng lên bội phần. Nhưng dù oi bức như thế chàng vẫn còn có cảm tưởng thoải mái hơn cái oi bức của buổi sáng hôm nay. Ðăng rẽ vào một quán ăn quen từ ngày còn đi học. Không ai nhận ra chàng vì quán ăn đã đổi chủ. Ðăng bỗng cảm thấy mất đi cái thú vị của việc trở về nơi cũ, gặp lại cảnh cũ, người cũ.
              Cảnh ở đây thì rõ ràng không thay đổi bao nhiêu, nhưng người thì thay đổi nhiều. Ðám bạn bè của Ðăng khi chàng ra đi thì cũng lần lượt ra đi hết và bây giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa đã chết, có đứa mang thương tật như chàng và hiện đang sống ở một nơi nào đó. Cũng có đứa đùm đề vợ con, mà những lo toan về cuộc sống đè nặng trên đôi vai, khiến cho không còn có thì giờ nữa để sống với bạn bè.
              Ðăng uể oải uống nốt ngụm cà phê rồi đứng lên trả tiền.
              Vừa ra khỏi quán thì tình cờ nhìn thấy Thủy đang đạp xe đi đến. Ðăng buột miệng gọi:
              -Thủy.
              Nghe tiếng gọi Thủy ngừng xe, ngơ ngác tìm, nhìn thấy Ðăng nàng mỉn cười:
              -Lâu lắm mới gặp anh. Về bao giờ?
              -Lâu rồi.
              Thủy tròn mắt ngạc nhiên:
              -Lâu rồi? Thế mà Thủy không biết. Sao không ghé Thủy chơi?
              -Về lâu rồi, nhưng nằm bệnh viện. Còn về nhà thì mới đây.
              -Anh bị bệnh hay bị thương mà phải nằm bệnh viện?
              -Bị thương.
              -Có nặng không?
              -Cũng khá, mất một chút gan, chút ruột.
              -Bao giờ anh lại đi?
              -Không bao giờ đi nữa, giải ngũ rồi.
              Thủy cười:
              -Thôi thế cũng là may. Bây giờ anh có tính làm gì không?
              -Chưa tính được là phải làm gì bây giờ. Cũng cần nghỉ một thời gian cho tâm hồn bình thản trở lại. Tập trở về đời sống dân sự cũng khó như tập vào đi sống nhà binh.
              -Thủy tin rằng tập trở lại đi sống dân sự dễ hơn nhiều.
              -Có lẽ thế, nhưng khó khăn là sự mất mát trong tâm hồn khá nhiều và sự mất mát ấy rất khó lấy lại được.
              -Anh có vẻ bi quan, có vẻ thay đổi nhiều!
              Từ lúc gặp nhau cả hai đều đứng ở ngoài lề đường. Nắng chiếu trên khuôn mặt Thủy khiến Ðăng nhìn thấy rõ những sợi lông tơ trên da và những giọt mồ hôi nhỏ lấm tấm trên khuôn mặt nàng, cả hai đều lóng lánh dưới ánh mặt trời. Làn mi của Thủy rung lên khi nàng nói và nhất là khi nàng cười. Ðăng cảm thấy thú vị khi được nói chuyện lại với người bạn gái từ thuở còn niên thiếu. Chàng dò ý:
              -Mình vào quán nước bên kia đường nói chuyện một tí, Thủy có bận gì không?
              -Thủy định đi thăm bạn, nhưng không có gì quan trọng.
              Tuy vừa uống cà phê xong nhưng Ðăng cũng phải gọi một ly cà phê nữa cho mình vì chẳng biết uống gì, còn Thủy một ly nước cam. Kể từ khi lớn lên Ðăng không nói chuyện với Thủy, chàng cũng không hiểu tại sao bỗng dưng tình bạn bị chấm dứt khi cả hai nhận ra sự khác biệt về phái tính của mình, làm như hễ đã là nam, nữ thì không thể làm bạn được, chỉ có thể hoặc là người yêu hoặc không là gì hết. Ðăng suýt bật cười khi nghĩ đến thời kỳ mới lớn ấy, cả hai gặp nhau đều phớt lờ làm như chưa bao giờ quen nhau. Rồi khi tình cờ gặp lại sau một thời gian dài xa cách, bỗng cảm thấy gần gũi, thân mật như gặp lại một người bạn thân.
              Ðăng bỗng nhớ đến lần Thủy đứng bên bờ ao, cầm cành cây nhỏ cố gắng khều một bông hoa súng ở xa bờ, rồi loay hoay thế nào ngã xuống ao ướt hết quần áo. Ðăng đứng trên bờ hoảng hốt, lúng túng không biết làm thế nào vì Ðăng cũng không biết bơi. Nhưng may mắn là chỗ đó nước cạn, Thủy lội được vào bờ người ướt sũng nước. Thủy sợ về nhà ba má thấy quần áo ướt bị đánh đòn, cô bé phải cởi quần áo vắt cho hết nước, sau đó mặc vào lại, rồi tiếp tục đi chơi cho đến khi quần áo khô hẳn. Ðăng nhớ khi cởi quần áo, Thủy còn bắt Ðăng quay nhìn đi chỗ khác. Ðăng nói: "Tao còn lạ gì mày mà bày đặt!". Nhớ đến chuyện ấy, Ðăng nhìn Thủy hỏi:
              -Thủy còn nhớ lần tụi mình chơi ở bờ ao rồi Thủy ngã xuống nước không?
              Không biết là Thủy đã quên hay giả vờ quên, nàng trả lời:
              -Anh là chúa xạo, Thủy đâu có bị té xuống nước hồi nào?
              Ðăng định nhắc lại chuyện Thủy chui vào bụi cây cởi quần áo ra vắt, nhưng rồi nghĩ là không nên nhắc lại những điều người con gái cố ý quên. Nhưng bất ngờ Thủy nhớ ra được:
              -À, Thủy nhớ ra rồi! Hôm đó Thủy về bị má đánh cho một trận nên thân. Mình tưởng quần áo khô là thoát nạn rồi, ai ngờ bà già vẫn biết, tài thật! Còn anh, Thủy bị té xuống nước mà anh cứ đứng trơ ra, chẳng cứu gì hết!
              Ðăng hơi đỏ mặt:
              -Có biết bơi đâu mà cứu.
              -Bây giờ biết bơi chưa?
              -Biết chút chút, nhưng bây giờ mà Thủy ngã xuống nước thì dù không biết bơi cũng phải liều mạng nhảy xuống.
              -Nhảy xuống để cứu hay nhảy xuống chết chung?
              -Có lẽ cả hai.
              Thủy cười, đôi mắt tinh nghịch:
              -Thôi, cảm ơn anh, cứu được thì cứu, không cứu được thì thôi, chết chung làm gì. Anh chết rồi cô bồ để cho ai đây?
              Ðăng chối biến:
              -Bồ nào? Anh có cô bồ nào đâu?
              -Thật không? Hồi xưa anh nói gạt Thủy hòai!
              Nói xong Thủy mới biết mình lỡ miệng và Ðăng cũng hiểu điều ấy. Chàng tự hỏi mình: "Liệu có nên tiến thêm nữa hay không?".
         

        *
        *     *

              Ông Khôi rẽ vào một con hẻm trên đường Kỳ Ðồng, nơi ông thuê làm chỗ tạm trú cho Liễu, vợ bé của ông. Ông không ngờ cái con bé bán "bar", mà lúc đầu ông chỉ có ý định cặp chơi chơi, lại làm ông say mê đến thế.
              Trong bao nhiêu năm sống bên cạnh vợ con, ông không bao giờ nghĩ đến việc san sẻ tấm lòng yêu thương vợ ông cho một người nào khác.
              Nhưng rồi cuộc đời đổi thay, từ khi ông chạy "áp phe" ông phải đi đây đi đó, tiếp xúc với người này người khác. Và khi la cà ở quán nhậu, "bia ôm" để bàn tính chuyện làm ăn, ông đã gặp Liễu.
              Lúc đầu ông nhủ lòng, các cụ ngày xưa năm thê bảy thiếp cũng đâu có sao, bây giờ ông chỉ cặp với Liễu một thời gian để thưởng công cho chính mình, miễn là ông kín đáo để vợ ông không biết rồi ghen ngược ghen xuôi là được. Nhưng rồi ông càng ngày càng say mê cô gái trẻ này.
              Ông còn đủ tỉnh táo để biết là mình mê muội nhưng lại không ngừng lại được. Không về đây với Liễu dù chỉ một ngày là ông bồn chồn, khổ sở. Và khi đã nằm cạnh nàng thì ông không muốn đi nữa. Nàng như thứ ma túy giữ rịt ông lại, khiến ông cảm thấy bất lực mỗi khi nghĩ đến chuyện vùng vẫy để thoát ra.
              Ông biết việc ông ngoại tình gây đau khổ cho vợ ông không ít, nhất là những khi bà ngồi tấm tức khóc. Nhưng biết làm thế nào bây giờ khi ông không còn bỏ Liễu nổi nữa. Nếu bà lồng lộn, xiả xói, chắc ông sẽ đi luôn như một cái cớ, nhưng bà đã không làm thế và đấy là điều ông băn khoăn.
              Khi đến trước cửa nhà, ông giơ tay gõ ba tiếng vào cánh cửa, mật hiệu của ông và Liễu, nàng chạy ra trong bộ quần áo bằng lụa mỏng, hỏi ông:
              -Sao bữa nay tới trễ thế?
              Ông đáp cho qua:
              -Bận việc.
              Liễu nũng nịu:
              -Làm người ta chờ muốn chết!
              Ông ôm Liễu. Nàng trẻ, đẹp. Nàng làm ông sống lại những cảm giác ngây ngất của một thời trai trẻ, xa xưa.
              Khi nằm trên giường, hai thân thể song song, chính ông cũng nhận ra cái vẻ già nua và thô kệch của thân thể mình, tương phản với vóc dáng trẻ trung, tươi mát và chắc nịch của Liễu. Nhận xét ấy đã làm cho ông cảm thấy sung sướng hơn khi trải qua những giây phút ái ân với nàng.
              Sau những giây phút ấy là Liễu quay mặt vào trong ngủ giấc trưa. Còn ông, ông không thể ngủ được. Chính ông cũng ngạc nhiên, thường thường ông cũng rất dễ ngủ sau những quấn quýt, rã rời ấy. Nhưng đối với Liễu thì không thế. Sau những căng thẳng bắp thịt là sự tỉnh táo. Hình như thời gian ngắn ngủi, mong manh nhắc ông phải thức để tận hưởng những gì đang có? Hay những lo toan mới khiến ông không còn được hưởng sự bình yên trong tâm hồn, như những buổi trưa nằm bên vợ trong ngôi nhà ở Phú Lâm?
              Ông Khôi hết nhìn Liễu lại nhìn ra ngòai khung cửa sổ mở về phía sau. Một con chim sâu đang truyền từ cành nọ sang cành kia trên cây trứng cá ngay trước cửa sổ, bóng chim thoăn thoắt, nhẹ nhàng. Bỗng ông nhớ đến thời niên thiếu đã xa lắm rồi, những buổi trưa đi bắt chim trong những vườn cây ở Sơn Tây, những cô bé hàng xóm cùng ông dãi nắng suốt buổi trưa hè quanh những bờ ao. Bây giờ các cô gái bé tí ấy đã già, da đã nhăn nheo, hậm chí có người đã chết. Ông cảm thấy hết nỗi mong manh của một kiếp người.
              Cổ nhân bỉnh chúc, cái triết lý hưởng lạc của người xưa sao ông thấy thích hợp với ông qúa. Các cụ hành lạc đến như vậy thì ông chưa thấm gì! Ông tự bào chữa như thế mỗi khi bị dằn vặt về việc bê tha của mình.
              Nằm loay hoay mãi vẫn không ngủ được, ông Khôi trở dậy mặc quần áo để đi làm. Liễu vẫn nằm ngủ mê mệt trên chiếc giường nệm trắng ở góc phòng, trên người chỉ đắp một tấm vải mỏng làm nổi rõ những đường cong của thân thể. Ông muốn chạy lại hôn nàng trước khi đi nhưng lại sợ Liễu thức giấc. Cuối cùng ông đành khép cửa đi ra ngoài.
              Mấy đứa trẻ đang đứng trước nhà ông, thấy ông thò đầu ra, hè nhau bỏ chạy mỗi đứa một hướng, vừa chạy vừa cười. Một bà sồn sồn ở căn nhà đối diện nhìn ra thấy ông buông một câu làm ông đỏ mặt:
              -Ðồ già dê!
              Ông Khôi bực tức leo lên xe đi thẳng. Từ ngày đem Liễu về xóm này,ông cứ tưởng tìm được nơi kín đáo, hiền hòa. Nào ngờ lũ trẻ rắn mắt đã rình rập ông, nhòm qua khe cửa, lỗ khóa, theo dõi từng động tác, cử chỉ của ông. Ông thành ra một trò chơi cho chúng. Ðã thế ông còn hòng che mắt đựơc ai! Ông Khôi chán nản lắc đầu. Mảnh trời xanh chạy ngoằn ngoèo theo con hẻm trên đầu ông như thật chói chang, mặc dầu con đường ông đi vẫn râm mát nhờ những căn nhà gác gỗ hai bên che khuất bóng mặt trời. Sau cơn hoan lạc là mệt mỏi, ông vẫn biết thế, nhưng chưa bao giờ ông thấy mệt mỏi như ngày hôm nay. Khi ra đến đường Trương Minh Giảng, ông định trở lại cố ngủ một giấc cho lại sức, nhưng rồi ông lưỡng lự, và cuối cùng ông quyết định về thẳng Phú Lâm.
              Về đến nhà ông gặp Ðăng đang ngồi hí hoáy viết gì đó ở một cái bàn kê gần cửa sổ nhìn ra vườn. Ðăng quay lại nhìn ông, hai bố con nhìn nhau, hình như Ðăng gọi: "bố", nhưng ông nghe không rõ. Ông hỏi Ðăng:
              -Mẹ mày đâu?
              Ðăng vừa cúi xuống lại ngẩng lên:
              -Con không biết, chắc mẹ con đi đâu đó.
              Ông đi thẳng vào phòng ngủ, thay quần áo rồi lên giường nằm. Căn phòng ngủ của ông, ông đã nằm từ năm này sang năm khác, bỗng dưng cảm thấy lạ lẫm. Có lẽ vì ông ít khi về nhà nằm nghỉ vào giờ này. Ông cố dỗ giấc ngủ nhưng thật khó khăn, hình ảnh Liễu, căn nhà nhỏ, cái tổ ấm thứ hai của ông ở con hẻm đường Kỳ Ðồng cứ chập chờn trước mắt. Ðáng lẽ ông không nên đa mang vợ nọ con kia trong lúc tuổi già này, nhưng mọi chuyện đã lỡ. Ông không thể tự chế để ngừng lại, và có lẽ Liễu cũng không cho ông chấm dứt một cách dễ dàng. Cái thú vui dối già mà ông tưởng giúp ông tìm lại hương vị của tuổi thanh xuân, cường tráng, chỉ như lửa rơm, mau lụi tàn, và để lại những ê chề, mệt mỏi.
              Bên ngoài phòng khách, Ðăng thấy bố về rồi lao vào phòng ngủ ngay, chàng biết là ông mỏi mệt. Bao năm sống đời lính tráng nay đây mai đó, nhiều khi không biết làm gì cho hết thì gời sau những cuộc hành quân, chàng cũng lăn lóc trong những xóm ăn chơi và hiểu được rằng: Thú vui nào cũng phải trả một giá nào đó, nhất là thú vui xác thịt, cái giá đó còn mắc mỏ hơn đối với người già.
              Ðăng bỗng nhớ đến mẹ, bà mới ở đây giờ đâu không thấy nữa. Vừa rồi khi nghe bố hỏi, chàng đã trả lời cho qua, nhưng giờ thì Ðăng không biết thật. Hình như bà muốn tránh mặt ông, tránh mặt người mà trước đây mỗi lần ông đi đâu vắng bà thường hay nhắc nhở, mong ngóng.
              Nhiều lúc thương mẹ, Ðăng muốn làm một cái gì đó giúp mẹ thoát khỏi tình trạng buồn khổ hiện tại, nhưng chàng không biết phải làm bằng cách nào. Mở miệng nói ra lời khuyên ông chăng? Ðiều ấy có vẻ ngược đi, hỗn hào nữa! Tìm cách phá tổ uyên ương của ông một cách ngấm ngầm chăng? Hình như ít có thằng con trai nào đi làm một công việc tương tự như vậy. Một việc có vẻ "cả quỷnh", "ruồi bu'', thối! Ðánh ghen là nghề của các bà, các cô, đâu có phải là việc của một thanh niên như chàng. Ðăng biết là những điều ấy chàng chỉ nghĩ đến mà không bao giờ làm được.
              Không muốn ngồi nhà nghĩ ngợi những chuyện lôi thôi mà chàng biết chẳng ích lợi gì, Ðăng thay quần áo rồi đi ra ngoài phố với ý định tìm một quán cà phê nào đó ngồi uống cho hết thì giờ. Nhưng khi ra đến bên ngoài Ðăng mới thấy là mình làm chuyện ngược đi. Nắng buổi chiều như đổ lửa trước mặt, con đường nhựa bị sức nóng thiêu đốt đang chảy ra đen nhánh như ướt nước. Ðăng tạt vào một quán cà phê ở ngay bên đường.
              Buổi trưa quán vắng khách, cô gái bán hàng đang lật đi lật lại một tờ báo
        phụ nữ, thấy khách vào vội bỏ tờ báo chạy lại:
              -Anh uống gì?
              -Cà phê đá.
              Nàng bỏ đi, một lúc sau trở lại mang theo ly cà phê để trên cái đĩa nhỏ đặt trước mặt chàng. Nàng tự nhiên kéo ghế ngồi xuống:
              -Anh chưa hết phép hả?
              Ðăng sững sờ nhìn cô gái. Cô gái biết Ðăng, biết Ðăng đã đi lính, và hình như nàng còn theo dõi từng bước chân của chàng? Ðăng cố moi óc tìm kiếm, cố nhớ xem đã gặp người con gái này ở đâu nhưng đành bất lực, chàng thú thật với cô gái:
              -Sao cô biết tôi là lính mà hỏi vậy?
              -Thì hồi xưa anh thường vô đây uống, em thấy anh hay bận đồ nhà binh mà.
              Ðăng hiểu ra đó chỉ là cách bắt chuyện của nàng. Ðăng ít khi nào vào quán này, và nếu có vào chàng cũng không mặc quân phục. Hơn nữa chàng có còn là lính nữa đâu.
              -Anh giải ngũ rồi.

          Õ-Vậy là sướng rồi! Bây giờÕ anh làm gì?
              -Chẳng làm gì cả, suốt ngày cà nhỏng vậy thôi.
              Có khách bước vào quán, cô gái bỏ Ðăng đi tiếp khách mới, chàng cảm thấy dễ chịu hơn khi cô gái đã đi. Ðăng móc một điếu thuốc ra hút, mắt lơ mơ nhìn ra con đường chói chang ánh nắng ở phiá trước. Từng đoàn xe nhà binh trên chở đầy lính tráng đang tiến vào thành phố. Nhìn những người lính trên xe, Ðăng bỗng nhớ đến một quãng đời cũ chàng mới đi qua. Cuộc đời nhà binh nay đây mai đó, cực khổ nhưng mà vui. Ðăng có cảm tưởng là mình hợp với nếp sống quân ngũ hơn là cuộc sống dân sự, và chàng ao ước được trở về đơn vị cũ với những đồng đội đã từng chia sẻ với nhau từng mẩu thuốc lá, từng đồng bạc tiêu vặt.
              Bây giờ đã hết tất cả, chàng đã bị loại ra khỏi cuộc chiến đấu, chàng đã là người thua cuộc. Chàng sẽ mãi mãi sống cuộc đời nhàm chán như thế này. Suốt ngày quanh quẩn trong khu Phú Lâm nhỏ bé, trong thành phố Sài Gòn ồn ào và bụi bậm này. Ðăng có ý định đi xin việc để có cái gì đó khỏa lấp những ngày trống rỗng, vô vị hiện tại, nhưng chàng chưa cảm thấy sức khoẻ được phục hồi, thỉnh thoảng vẫn thấy có những cơn sốt bất ngờ chợt đến. Sốt đối với chàng bây giờ như một cuộc giỡn chơi, chợt đến chợt đi, nhưng sau đó là cái cảm giác bải hoải, rã rời.
              Ðăng cầm ly cà phê uống nốt rồi đứng lên trả tiền về nhà.
              Khi Ðăng về đến nhà thì bố đã bỏ đi và mẹ Ðăng cũng chưa về. Căn nhà
        trở nên trống trải và vắng lặng một cách lạ lùng, chàng ngồi lại trên cái ghế trước hiên nhìn thẫn thờ ra ngoài vườn.
              Bóng râm của ngôi nhà đã gần che hết mảnh sân, có lẽ Lan và Tường sắp đi học về. Chẳng hiểu Lan và Tường nghĩ gì về cảnh tượng bố mẹ xào xáo nhau
        hằng ngày? Khi còn nhỏ Ðăng không bao giờ phải chứng kiến cái cảnh tương tự. Ðăng chỉ biết mỗi khi gia đình có chuyện gì hai đứa em nhỏ của chàng lấm lét hết nhìn bố lại nhìn mẹ. Nhưng những lo âu và buồn bã rất chóng qua chóng hết, và một lúc sau chúng lại nô đùa như không có chuyện gì xẩy ra.
              Ðúng như Ðăng đoán một lúc sau thì Lan và Tường về thật. Vừa đặt cặp
        xuống là cả hai chạy ra ngay ngoài vườn chẳng biết để làm gì. Ðăng chợt nhớ đến những ngày còn nhỏ của mình, chàng cũng có những niềm vui dễ dàng như chúng, nhưng những ngày ấy đã qua rồi, đã thật sự hết sau mấy năm xông pha lửa đạn trở về. Thương tật chàng mang trên thể xác đã đành, nhưng chính trong tâm hồn chàng cũng mang những vết thương mà thuốc men chẳng thể làm cho lành được.
              Bỗng Ðăng nghe được những tiếng động ở bếp, chàng hơi ngạc nhiên nhưng đoán được ra ngay là mẹ chàng đã về để chuẩn bị bữa cơm chiều.
              Mặc dầu buồn khổ vì ông chồng đèo bòng vợ nọ con kia, bà vẫn không quên trở về làm cơm cho gia đình. Thấy thái độ nhẫn nhục của mẹ, Ðăng thương mẹ vô cùng nhưng cũng không biết làm thế nào để an ủi.
              Ở dưới bếp, bà Khôi vừa lúi húi làm bữa cơm chiều vừa nghĩ ngợi mung
        lung. Vì giận chồng bà đâm lú lẫn, quên thứ nọ thứ kia, trở nên vụng về trong việc bếp núc, một việc mà bà đã làm từ mấy chục năm nay.
              Nhiều lúc bà muốn bỏ mặc cho ông chồng muốn ăn uống ở đâu thì ăn, bà
        không thèm nấu nướng gì nữa, nhưng rồi nghĩ đến đàn con bà lại tiếp tục làm.
              Bà nhớ lại ngày hai người mới yêu nhau, ông nói ngon nói ngọt, thề thốt
        đủ điều. Bà những tưởng những lời mật ngọt ấy ông chỉ nói với một mình bà
        thôi nên bà đã uống những lời nói như bùa như ngải ấy một cách say sưa. Ðến nay thì bà biết là mình đã nhầm, cái nhầm lẫn lớn lao qúa!
              Bà chợt nhớ đến người đàn ông tên là Hồ, ông này cũng chạy theo bà khi
        bà còn son trẻ. Một chút tiếc nuối vu vơ chợt đến nhưng bà cố lắc đầu xua đuổi ý nghĩ ấy.
              Bà Khôi vừa nghĩ ngợi lung tung vừa rửa những lá bắp cải mới bóc ra trong một chậu nước. Nồi cơm bên cạnh đã sôi, nước cơm đặc quánh trào ra một bên nồi, làm cái vung cứ bật lên để hơi xì ra thành một vòi dài hắt vào bức tường nhà bếp.
              Lan và Tường chơi chán ở vườn chạy vào bếp xem mẹ đã làm cơm xong chưa thấy cảnh tượng ấy kêu lên:
              -Cơm sôi rồi mẹ ơi!
              Bà Khôi giật mình sực nhớ ra chạy lại, vội vã bớt lửa rồi mở vung nồi cơm, bà lật đật tìm đôi đũa cả để ghế cơm, nhưng không thấy đâu, nên đành dùng đôi đũa thường cho vào nồi đảo lên cho đều. Lâu nay cái nồi cơm điện đã bị hư, đáng lẽ bà đã nhắc ông đem sửa hoặc mua cái nồi khác, nhưng vì giận chồng bà không buồn nhắc nữa.
              Bỗng dưng bà thấy chán nản, cảm thấy mệt mỏi hơn bao giờ hết. Bà quay
        lại nói với Lan và Tường:
              -Hai đứa lên nhà xem chị Bích đã về chưa?
        ÕLan, Tường chưa kịp đi thì Bích đã thay quần áo xong, nghe mẹ nhắc tên mình, nàng nói với xuống:
              -Con về rồi, con xuống ngay.
              Thường thường khi Bích về đến nhà thì mẹ đã làm xong cơm chiều. Mấy hôm nay nàng biết mẹ buồn, cơm nước trễ nải nên nàng thường chạy xuống bếp giúp mẹ sau khi về nhà. Là phái nữ với nhau Bích hiểu nỗi buồn của mẹ mình. Nếu Bích là mẹ nàng chắc nàng phải làm cái gì đó chứ không thể như bà chỉ biết buồn khổ một mình.
              Bích chợt nhớ đến Phú, người yêu của nàng. Liệu sau này Phú có như bố
        nàng không? Có như những người đàn ông khác không?
              Nàng không tin, không tưởng tượng nổi một ngày nào Phú lại thay lòng đổi dạ đến như vậy. Phú mê nàng từ ngày nàng còn nhỏ, ngay từ hồi nàng còn học đệ thất, đệ lục. Mối tình ấp ủ trong thầm lặng. Những ngày đi học mỗi khi gặp nàng Phú nhìn như ngây dại. Nhìn vào đôi mắt Phú, Bích hiểu điều gì đang ấp ủ trong lòng chàng, nhưng lòng Bích dửng dưng. Thật sự khi ấy nàng không yêu Phú mà cũng chưa yêu ai. Rồi ngày qua tháng lại, Phú tiếp tục đeo đuổi. Phú đeo đuổi đến độ nhiều lúc Bích cảm thấy thương hại Phú. Nhiều hôm trời mưa gió Phú cũng đạp xe chạy vòng vòng quanh khu nhà Bích, chỉ mong nhìn thấy nàng một lần mới chịu phóng xe về.
              Yêu theo kiểu ấy Phú không thể giữ mãi trong lòng. Một hôm Phú tống cho
        nàng một lá thư, một lá thư thống thiết lâm ly. Bích đọc xong không trả lời. Phú bực bội chận xe giữa đường hỏi:
              -Bích có nhận được thư của Phú không?
              Bích nói:
              -Có.
              -Sao Bích không trả lời?
              -Biết trả lời anh sao bây giờ. Anh với Bích đều còn nhỏ, Bích nghĩ mình nên gác lại chuyện này, học đã. Khi nào chúng ta học xong Bích sẽ trả lời anh.
              Bây giờ nghĩ lại Bích cũng còn ngạc nhiên với chính mình, tại sao lúc đó
        Bích còn nhỏ lại có thể trả lời Phú bình tĩnh và khôn ngoan như vậy.
              Qua lần tỏ tình đó Phú hơi thất vọng nhưng không nản chí, chàng cắm cúi
        học và khi đậu xong tú tài 2 lại viết thư cho Bích tỏ tình một lần nữa. Và lần này Phú thành công.
              Phú thành công thật sự không do chàng nhưng do hoàn cảnh thúc đẩy.
              Qủa thực Bích không yêu Phú, nên sau khi Phú tỏ tình lần thứ nhất thất
        bại rồi cắm cúi học hành thì trong khỏang thời gian đó Bích gặp Trí và yêu Trí. Nhưng mối tình ấy không kéo dài. Khi Trí theo gia đình về một tỉnh lẻ ở miền Trung thì mối tình chấm dứt. Và Phú trở về đúng lúc Bích cảm thấy cô đơn nên được chấp nhận.
              Bích vừa làm cơm vừa loay hoay nghĩ ngợi, những đổ vỡ trong tình vợ chồng của bố mẹ làm nàng đâm bi quan về sự chung tình của Phú. Biết đâu Phú chẳng cặp cô này cô khác mà Bích không hề hay biết. Và biết đâu khi lấy nhau rồi Phú lại chẳng trở tính như bố nàng?
              -Con pha cho mẹ ít nước mắm, cho ít đường vào thôi. Mày pha nước mắm
        ngọt như chè vậy.
              Tiếng nói của mẹ Bích làm tư tưởng nàng đang suy nghĩ bị đứt ngang. Nàng không trả lời câu nói của mẹ nhưng bỏ công việc đang làm dở, mở chạn tìm tỏi, chanh, ớt, đường, rồi quay lại nói với mẹ:
              -Con chẳng thấy đường đâu cả.
              -Chắc mấy đứa mang lên nhà pha nước chanh uống hết rồi chứ gì! Lên nhà trên tìm xem có không.
              Bích chạy lên nhà trên. Ðúng như mẹ nàng nghĩ, hũ đường nằm trên bàn ở phòng khách. Bích nghiêng hũ nhìn vào trong rồi mang xuống bếp nói với mẹ:
              -Chắc còn đủ.
              -Ngày mai khi con đi làm về ghé tiệm tạp hóa mua cho mẹ mấy kí. Nấu
        nướng mà thiếu thứ này thứ khác thì bực mình lắm! Bữa cơm chiều chỉ có mấy mẹ con ăn với nhau, ông Khôi thỉnh thoảng mới tạt về nhà như trưa nay rồi ông lại đi, gặp bữaÕ ông mới ăn ở nhà, còn thì ăn cơm quán hay cơm ở nhà Liễu. Vắng ông bữa cơm trở nên tẻ ngắt. Chỉ có Lan và Tường thỉnh thoảng nói một hai câu hoặc cãi nhau vì những trò chơi đang chơi dở dang, còn mọi người đều im lặng cắm cúi ăn cho qua bữa.
              Nhiều lúc Ðăng và Bích muốn nói một câu gì đó, mà loay hoay mãi không
        biết nên nói gì để cho câu chuyện không trở nên nhạt nhẽo, và giảm cái không khí căng thẳng trong bữa cơm nhưng đành chịu.
        *
        *     *
         
              Một sáng chủ nhật, Ðăng cảm thấy thoải mái vì vết thương cũ hình như đã lành, chàng chuẩn bị đi dạo một vòng. Ðã lâu lắm kể từ khi bước vào cuộc sống quân ngũ Ðăng không đi dạo phố. Cái thú đi một vòng Lê Lợi, Nguyễn Huệ để ngắm các tà áo tha thướt bay đã không còn nữa.
              Về Sài Gòn với bộ quân phục, với mái tóc hớt ngắn, Ðăng cảm thấy mình lạc lõng trong cái thế giới bon chen đã xa lạ đối với chàng. Chẳng những thế khi ấy Ðăng còn cảm thấy bực bội, muốn đập, muốn phá một cái gì đó khi thấy hậu phương xa hoa, diêm dúa trong khi ngoài mặt trận lính tráng khổ cực và cái chết đến từng giây, từng phút. Nhưng nay thì Ðăng cũng đang sống trong cái hậu phương nhầy nhụa ấy. Ðăng cũng sẽ như họ, như những người đang ham mê làm giàu nhờ vào cuộc chiến tranh này. Mấy bộ quần áo dân sự lâu nay Ðăng cất trong tủ được lấy ra mặc lại. Những bộ đồ "vía" mà trước đây Ðăng nâng niu bây giờ trở nên trơ trẽn, nó lỗi thời như chính tâm hồn chàng. Ðăng nhìn khuôn mặt và vóc dáng mình trong gương, nhưng rồi chàng quay đi nhủ thầm:
              -Cần quái gì, đẹp xấu thì cũng thế thôi!
              Khi ra đến Lê Lợi, dãy phố quen thuộc ngày nào bỗng trở nên xa lạ đối với chàng. Ðăng cũng không biết tại sao chàng lại có cái cảm tưởng lạ lùng ấy. Phố xá không có gì thay đổi, nó vẫn như thế từ bao nhiêu năm trước đây sao bây giờ chàng thấy xa lạ. Ðăng đi vào trong đám đông, người nọ xô đẩy người kia bước tới, mùi phấn son, mồ hôi và đủ thứ mùi nữa trộn lẫn vào nhau trong cái nắng như thiêu đốt ở trên đầu. Người ta tìm thấy niềm vui gì trong cảnh chen lấn này? Có lẽ chỉ là để "rửa mắt", cách nói mà tuổi trẻ hay dùng. Ðăng không biết mình có ý định rửa mắt khi chen lấn vào đây hay không, nhưng rõ ràng là muốn rửa mắt cũng phải trả một cái giá màÕ một người mới bình phục như chàng quả là mắc mỏ.
              Ðăng băng đường về phía Nguyễn Huệ cho đỡ ngột ngạt. Bỗng chàng chú ý đến một phòng triển lãm tranh trên đường này. Vì tò mò Ðăng bước vào phòng tranh, cô gái đứng trước cửa ra vào chào
        chàng và trao cho Ðăng một tấm giấy giới thiệu về người họa sĩ và những bức tranh được triển lãm. Ðăng cầm lấy đọc qua một cách hững hờ. Khi ngước nhìn lên Ðăng sững sờ đến hoa mắt, một thiếu phụ đang đứng nhìn một bức tranh ở góc phòng có vóc dáng y hệt Quyên. Nàng đang chăm chú nhìn bức tranh. Ðăng tiến lại gần và nhận ra người ấy đúng là Quyên. Chàng lúng túng, tay chân bủn rủn, định quay đi nhưng đã quá trễ. Quyên quay lại, nàng cũng sững sờ nhìn Ðăng, đôi má chợt đỏ và đôi mắt nàng bỗng cúi xuống nhìn mũi giày. Quyên hỏi, giọng rất nhỏ:
              -Anh mới về?
              -Về lâu rồi nhưng hôm nay mới ra phố. Quyên có khoẻ không?
              Quyên ngẩng lên nhìn Ðăng, đôi mắt hình như đã hơi ướt:
              -Cảm ơn anh, Quyên vẫn thường. Còn anh thế nào?
              Ðăng nhủ lòng, cố giữ lời nói và cử chỉ bình thường, nhưng rồi không kiềm chế được chàng buột miệng nói một lời hơi có vẻ đắng cay:
              -Anh không được thường lắm.
              Ðăng chợt nhớ ra Thẩm, biết đâu Thẩm cũng đang ở trong phòng tranh này, và rồi Quyên sẽ giải thích như thế nào với chồng nàng. Ðăng hỏi:
              -Thẩm đâu, sao em không giới thiệu?
              Một phút im lặng trôi qua, những giọt nước mắt bắt đầu ứa ra trên khoé
        mắt Quyên, nàng đáp hầu như không thành tiếng:
              -Thẩm chết rồi!
              Ðăng bỗng cảm thấy như tê dại, không còn biết thực sự cảm tưởng của
        mình lúc đó ra sao, buồn hay vui, Ðăng lúng túng không biết nói gì, một lúc sau mới nói được một câu rất thường tình:
              -Anh xin chia buồn cùng Quyên và gia đình. Nhưng tại sao Thẩm chết?
              -Anh ấy đi dạy học về thì bị tai nạn giao thông.
              -Bây giờ Quyên còn ở bên đó chứ?
              Quyên ngơ ngác một lúc sau mới hiểu câu hỏi của Ðăng.
              -Em vẫn ở bên nhà anh ấy. Ðúng hơn, em vẫn ở căn nhà trước đây vợ chồng em ở. Anh có giận em không?
              Một chút hờn giận bùng lên trong lòng nhưng Ðăng cố kiềm chế:
              -Không, anh không bao giờ giận em. Anh hiểu hoàn cảnh của em và hoàn cảnh của anh nữa. Khi đó anh là lính tráng, nay đây mai đó, lại không có công
        danh sự nghiệp gì nên đành phải chấp nhận hoàn cảnh thôi.
              Quyên nghe Ðăng nói "khi đó" nhưng nàng không kịp hiểu nên hỏi:
              -Chắc anh đi phép? Anh còn được ở Sài Gòn lâu không?
              Ðăng cười buồn:
              -Anh giải ngũ rồi.
              -Lúc này đang đánh nhau dữ dội, sao anh giải ngũ dược?                                                                          -Anh bị thương nặng nên hội đồng y khoa cho giải ngũ, không còn đủ sức để chiến đấu nữa.
              -Chết chửa, vậy mà em không biết. Anh bị thương ra sao?
              -Bị cắt mất một phần lá gan và mấy khúc ruột.
              Quyên xót xa nhìn Ðăng. Bây giờ nàng mới chú ý đến nước da xanh xao và cái dáng hơi gầy của chàng. Một mối xúc động chợt xâm chiếm tâm hồn nàng. Nước mắt Quyên lại chảy ra lăn dài trên má. Nước mắt của Quyên làm Ðăng chợt thấy đau nhói ở ngực. Ðăng biết, biết rất rõ Quyên đã nhẫn tâm tham cảnh giàu sang nên bỏ chàng đi lấy Thẩm. Nhưng nhìn Quyên khóc, Ðăng vẫn không sao kiềm chế được mối xúc động chợt dâng lên trong lòng.
              Người họa sĩ và cô tiếp viên thấy Ðăng và Quyên đứng nói chuyện với nhau mà Quyên khóc vùi không biết chuyện gì xẩy ra, ngơ ngác nhìn. Ðăng cũng chợt khám phá ra điều ấy nên nói với Quyên:
              -Thôi mình ra ngoài tìm quán nước nào ngồi.
              Quyên theo bước Ðăng ra ngoài. Nàng chợt nhớ những ngày hai người còn đi học, những chiều thứ bảy Ðăng và nàng đi dạo phố rồi vào xem "ciné", những ngày ấy giờ đây đã hết, đã qua đi vĩnh viễn. Giờ đây nàng cũng đi bên cạnh Ðăng nhưng với tâm trạng xót xa, nuối tiếc và cay đắng. Bây giờ Quyên đã trở thành góa phụ, với một tâm hồn rách nát, bi thương.
               Nắng buổi chiều vẫn đổ xuống chói chang trên đường phố. Hai người đi ngược về phiá sông Sài Gòn, vì phiá ấy ít người đi lại hơn. Ðăng đưa nàng vào một quán nước vắng mà trước đây hai người thường vào. Khung cảnh cũ làm cả hai đều bồi hồi xúc động, yên lặng nhìn nhau không nói nên lời.

         

        CAO XUÂN LÝ

        Mời quý bạn đọc tiếp những chương còn lại trong sách. Muốn có sách, xin liên lạc nhà xuất bản và phát hành Làng Văn.

        Trở về lại: Trang văn CAO XUÂN LÝ