|
|
Con đường tiến
đến tương lai
Nền thần học chính truyền Công giáo tỏ ra rất tôn trọng các truyền thống
trong Giáo hội và chủ trương phục hồi lại những gì đã có, đang có và sẽ
tiếp tục duy trì như thế.
Trong lúc, các nhà thần học ngày nay lại xác quyết rằng những yếu tố đã
cấu tạo niềm tin và những thực hành đạo giáo từ trước đến nay, thì giờ
đây nhiều yếu tố không còn thích đáng nữa, không còn thích hợp nữa.
Khuynh hướng này nhấn mạnh hoạt động của Thiên Chúa giữa con người trần
thế đầy kỳ diệu, ngoài trí óc tưởng tưởng của chúng ta, luôn luôn sáng
tạo, không bao giờ bị gò bó trong những hiểu biết hạn hẹp của con người.
Hậu quả của biện chứng này xem ra với những người Công giáo "ngoan đạo"
là bây giờ mọi chuyện đều có thể đặt lại thành vấn đề. Như vậy không còn
gì là niềm tin vững chắc cả cho những gì mình tin sao? Linh mục này dậy
một đàng, linh mục kia lại dậy một nẻo khác. Giáo hoàng ban bố thế này,
linh mục lại hướng dẫn kiểu khác. Người tín hữu sống trong hoang mang,
giao động, lẫn lộn.
Lịch sử chứng minh rằng một câu trả lời đặc biệt cho tình trạng lẫn lộn
này không đem lại hiệu quả tốt đẹp cho Giáo hội. Câu trả lời đó là hãy
dập tắt những tiếng nói gây ra giao động trong dân Chúa và mọi người hãy
cùng bảo toàn "vùng đất đứng chung" là "toàn bộ" chân lý cần được dậy dỗ
và học hỏi tiếp tục. Với khuynh hướng bảo thủ này, các chức sắc giáo
quyền hầu như không quan tâm đến việc chuẩn bị cho các thế hệ tương lai
đương đầu với những thách đố của niềm tin trong mỗi thời đại.
Người tín hữu Công giáo ngày nay đang trải qua những hậu quả bi thương
của thái độ sống im lặng chịu đựng (thí dụ như hoàn cảnh những người
sống "rối rắm" hoặc các cặp vợ chồng trẻ phải đối diện với việc ngừa
thai). Thái độ im lặng và không muốn thăng tiến việc học hỏi mới nơi các
tín hữu đang đem đến hậu quả là tồn tại nơi người Công giáo một sự dốt
nát thảm hại về Kinh Thánh, dốt nát về cách thức các biến cố lịch sử đã
định hình niềm tin và các việc tôn thờ và nhất là hầu như không được
chuẩn bị đón nhận những canh tân ồ ạt của Công đồng Vaticanô II. Hậu quả
là người Công giáo thấy mình quá kém cỏi hiểu biết thần học nền tảng về
những vấn đề đức tin và luân lý đang gây ra nhiều tranh luận.
Hầu như trên mọi trình cấp trong Giáo hội, các vấn đề nhậy cảm về đức
tin và luân lý đều bị cấm cản không cho thảo luận. Những ai nêu lên
những vấn đề này một cách công khai, thật dễ dàng bị "chụp nón" là rối
đạo, là tà giáo. (Như vậy thật dễ hiểu tại sao lại tồn tại loại ngụy
biện "chống cha là chống Chúa, chống Giáo hội”). Đã có những cấm chỉ
không được đem ra thảo luận về những vấn đề nhậy cảm và nếu có linh mục
nào dám phá rào đem ra giảng giải trong địa phận, ông sẽ bị thuyên
chuyển đi nơi khác vì phạm vào tội bất trung.
Giáo quyền ở bất cứ trình cấp nào sẽ được nhiều người mến trọng nếu như
các ngài tỏ ra thái độ muốn lắng nghe và học hỏi, cởi mở đón nhận những
nhận thức mới và quan điểm mới, cũng như tỏ ra khoan dung với những suy
nghĩ khác biệt đáng quan tâm.
Kinh Thánh, Chúa Giêsu và sự hiện diện thực sự đầy yêu thương của Thiên
Chúa trong thế giới hiện nay, phải trở thành nền tảng cho niềm tin Kitô
giáo ngày nay. Hẳn chúng ta không hy vọng tất cả những ai đang hành xử
giáo quyền và lãnh đạo trong Giáo hội cởi mở đón nhận các nhà thần học,
các học giả nghiên cứu Kinh Thánh và thôi thúc người Công giáo ham mê
những điều sâu sắc và rung động từ những học hỏi này? Hẳn chúng ta không
trông đợi các giới chức này nhận ra nhu cầu khẩn thiết là trình bầy Chúa
Giêsu và công cuộc cứu độ của Ngài bằng những lối diễn tả không bị lệ
thuộc vào một thế giới quan (toàn gói chân lý) cổ điển? Hẳn chúng ta
không mong muốn các giới chức này xác tín công bố tin mừng là Thần Trí
Chúa đang tác động giữa dân của Ngài ngày hôm nay? Hẳn chúng ta không
ngưỡng vọng người Công giáo ngày nay được thách thức phải làm chứng tá
cho một nền luân lý vững mạnh, vì họ là những người trước tiên đã được
phát triển niềm xác tín vững mạnh về chính họ đang là Đền Thờ của Thiên
Chúa?
Nhiều người Công giáo hy vọng gặp được những giới chức lãnh đạo như thế
trên mọi trình cấp. Một số người muốn cống hiến thời gian và tài năng
vào công việc phục vụ công việc lãnh đạo này. Họ muốn tham gia và cảm
nghiệm vào một giáo hội với một giới chức lãnh đạo tỏ ra vững mạnh, hiểu
biết, nâng đỡ, và chấp nhận thách đố.
Nhiều người Công giáo đặt hy vọng những giới chức giáo quyền và lãnh đạo
biết thể hiện việc thăng tiến một nền tu đức hay linh đạo đích thực
trong cả Giáo hội. Nền tu đức đích thực là nền tu đức có trái tim và tâm
hồn của Lễ Hiện Xuống, nghĩa là dám liều thân và tín thác. Đó là lý do
tồn tại của Giáo hội. Đó là điều Giáo hội được mời gọi sống thiện hảo
như thế. Nền linh đạo này, đặt nền tảng nơi niềm tin căn bản của Kitô
giáo về Thiên Chúa, về Chúa Giêsu và về chính chúng ta, phải trở thành
tiêu điểm cho chúng ta trở về, khi chúng ta định giá những lời giáo
huấn, các nghi lễ phụng vụ, việc sở hữu tập thể Giáo hội, và việc mở cửa
trước các thay đổi mới.
Chúng ta có dám kiên trì làm chứng tá cho tất cả những hoạt động này như
một sức mạnh thần thiêng ở giữa chúng ta không? Làm thế nào các giới
chức lãnh đạo hoặc giáo quyền kiên quyết xác tín và khuyến khích các tín
hữu thể hiện chân lý này? Các giới chức có dám tín thác nơi các tín hữu
sống như thế không? Phải chăng nền phụng vụ của chúng ta phản ánh được
niềm vui của chân lý này? Các tác vụ trong giáo xứ có thực sự xây dựng
trên niềm xác tín rằng Thánh Thần hiện hữu trong mỗi người tín hữu?
"Vùng đất đứng chung" trong khung cảnh Kitô giáo phải đặt trên nền tảng
là niềm tin vững mạnh nơi Thiên Chúa, nơi bản chất chúng ta thông hiệp
với Ngài, nơi mối giây kết hiệp với Chúa Giêsu, nơi niềm tin vào chính
chúng ta là nghĩa tử của Thiên Chúa, nơi ý nghĩa chúng ta đem đến cho
cuộc sống, và nơi vai trò của Giáo hội. Nếu tất cả những điều đó trở
thành nội dung cho những gì chúng ta kiếm tìm, như vậy khả năng chúng ta
cam kết cho chân lý sẽ giúp chúng ta sẵn sàng đặt ra các vấn nạn, tìm
hiểm và học hỏi thêm, tin tưởng vào các kinh nghiệm của chúng ta, trao
đổi những lẽ khôn ngoan với các tôn giáo khác, và dám loại bỏ những
những hình ảnh cũ, hoặc những thế giới quan cũ, hoặc khuôn mẫu cũ không
còn thích ứng với thời đại chúng ta hôm nay.
Với thiện chí muốn bỏ lại thái độ độc tôn, độc hữu của mình về chân
lý tôn giáo, với việc trải lòng ra khám phá thực tại Thiên Chúa hiện
diện khắp mọi nơi, và trong niềm tin rằng sự hiện diện của Thiên Chúa
luôn luôn sáng tạo và vượt quá óc tưởng tưởng của chúng ta, Giáo hội
Công giáo sẽ trở thành chiếc đèn pha mới đem đến hy vọng và lãnh đạo cho
thế giới. Hình ảnh Kinh Thánh sẵn sàng chấp nhận phải chết đi để đem lại
những hoa trái mới, hẳn phải trở thành một thách thức cho Giáo hội Công
giáo trong thiên niên kỷ này. Giáo hội, như một tinh hoa của Kitô giáo,
phải cống hiến chính mình thành một sứ điệp cứu độ. Sứ điệp này và nền
linh đạo Hiện Xuống (spirituality of Pentecost) sẽ trở thành tin vui cho
toàn thế giới. Sứ điệp này được cống hiến cho thế giới trong niềm xác
tín rằng Giáo hội Công giáo hiện hữu tràn đầy yêu thương toàn thể nhân
loại và mọi tôn giáo đang đi tìm kiếm một Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ
đầy thần diệu. (Michael Morwood, MSC, Tomorrow's Catholic,
Twenty-Third Publications, 2002, tr. 114-136)
Đi tìm Ngôi
Sao của thời đại
Chúng tôi vừa trình bầy với quý độc giả chương cuối cùng của linh mục
Michael Morwood mang tựa đề "Leadership in a New Millenium" trong cuốn
"Tomorrow' s Catholic." Những dòng chữ của chúng tôi ở đây cũng như
chương cuối cùng của cuốn sách không phải là những dòng chữ cuối cùng để
gấp lại, nhưng thực sự đây là điểm khởi đầu để mời quý độc giả đi vào
suy tư.
Thực thế, mỗi thời đại Thiên Chúa đưa ra những dấu chỉ mới, những ngôi
sao mới để các tín hữu trong Giáo hội của Ngài lên đường, như ba vị đạo
sĩ khi xưa, đầy can đảm và thách thức đi tìm ý nghĩa mới của Ngôi Sao.
Ngôi Sao khi xưa đã dẫn ba nhà đạo sĩ đến gặp được Chúa Giêsu và tôn thờ
Ngài nơi máng cỏ Bêlem của vùng trời Palestine, thế thì Ngôi Sao ấy ngày
hôm nay còn dẫn đường cho Giáo hội tìm gặp được Ngài giữa những đổi thay
đột biến của thế giới ngày nay không? Kinh thành Giêrusalem khi xưa đã
khước từ không cho Đức Maria hạ sinh Chúa Giêsu tại đây và phải lững
thững đi giữa trời lạnh giá tìm đến cánh đồng hoang Bêlem, thế thì Giáo
hội của Chúa ngày hôm nay, là Thân Hình huyền nhiệm của Ngài, trong đó
có chúng ta, Giáo hội này còn được thế giới đón nhận hay khước từ? Giáo
hội của chúng ta, giữa thế giới này, phải chăng những nhà lãnh đạo Giáo
hội không làm sống lại hành trình nhập thế, truyền đạo và cứu thế của
Chúa Giêsu khi xưa, nhưng không phải trong khung cảnh của Palestine,
nhưng trong khung cảnh của thời đại hôm nay?
Giáo hội đã trải qua bao thời đại hưng thịnh cũng như suy vi, từ thời
Giáo hội tiên khởi nồng nhiệt, rồi bị bách hại suốt 300 năm trong đế
quốc Roma. Sau đó lại được phục hưng trở thành quốc giáo. Dần dà với
thời gian, Giáo hội lại tách thành Giáo hội Đông phương và Tây phương.
Chưa hết, trước những hủ hóa lan tràn trong Giáo hội, từng nhóm người
đứng lên yêu cầu Giáo hội sửa sai và canh tân, thay vì được lắng nghe và
đón nhận, họ lại bị xua đuổi và kết án, từ đây Thân Hình huyền nhiệm
Chúa Kitô lại chia ra hàng trăm mảnh. Tiếp tới thời đại Ánh Sáng, Cách
mạng Pháp, Phát Xít, Cộng sản, Giáo hội bị loại dần khỏi các lãnh vực
trần thế để kéo về cố thủ trong các thánh đường, các dòng tu hoặc có khi
phải chui dưới hầm (như Giáo hội Trung Hoa hiện nay).
Đâu là dấu chỉ của thời đại mới? Đâu là Ngôi Sao của Chúa Giêsu đang
xuất hiện hay vụt tắt trên hành trình của Giáo hội giữa thế giới ngày
nay? Chắc chắn Ngôi Sao ấy không còn xuất hiện ở Bêlem nữa, nhưng ở giữa
thời đại hôm nay. Các nhà lãnh đạo cũng như các tín hữu của Chúa Kitô
ngày nay còn nhìn ra ánh sáng của Ngôi Sao dẫn đường hay không? Chắc
chắn đã có nhiều người lạc lối khi Ngôi Sao dừng lại nơi chốn kinh thành
tráng lệ và không còn nhìn thấy Ngôi Sao dẫn đường nữa. Nhưng cũng chắc
chắn có những nhà lãnh đạo Giáo hội, những tín hữu lại tìm thấy Ngôi Sao
dẫn đường, khi họ chấp nhận rời bỏ chốn phồn hoa đô hội để tiếp tục dấn
thân vào con đường phiêu lưu mạo hiểm.
Nhà lãnh đạo chúng ta quý mến nhất phải chăng không là Thánh Giuse, một
con người âm thầm, nhưng quả cảm, luôn luôn biết lắng nghe tiếng nói
thầm thỉ của Thánh Thần để hướng dẫn Giáo hội nhỏ bé ban đầu là gia đình
Nagiarét? Thánh Giuse đã dẫn dắt Giáo hội nhỏ bé này từ hành trình dẫn
đến Bêlem, rồi trốn sang Ai Cập và sống lang bạt nơi đất khác quê người,
rồi lại trở về Palestine, nhưng không phải sinh sống tại thành thánh
Giêrusalem, nhưng tại ngôi làng heo hút miền Galilêa với nghề thợ mộc.
Thánh Giuse đã dìu dắt Hội Thánh nhỏ bé và thích nghi qua mọi hành trình
trần thế, để hoàn thành tiếng nói đầy sáng tạo và yêu thương của Thiên
Chúa, trong thái độ đầy vâng phục và tín thác. Phải chăng Thánh Giuse,
được Giáo hội tôn phong là Thánh Cả, không là mẫu gương để các nhà lãnh
đạo Giáo hội và các tín hữu Công giáo noi theo trên hành trình đi vào
thiên niên kỷ thứ ba này, khi biết lắng nghe tiếng Thánh Thần, sẵn sàng
lên đường và chấp nhận mọi thách thức và đổi thay của thời đại? Niềm hy
vọng của Giáo hội và của thế giới phải chăng phát sinh từ đây?
Hoàng Quý, nhân mùa Giáng Sinh 2004
 |