Thế nào là Lãnh Đạo trong Thiên Niên Mới?
(Leadership in a New Millenium)


Linh mục Michael Morwood, MSC

LTS. Trong chiều hướng đề cập về những thay đổi cần thiết trong Giáo hội Công giáo hiện nay, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu những tác giả và những tác phẩm nổi bật hiện nay. Song song với Lm. Morwood trong bài dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu tư tưởng của David Gibson, nhà báo của đài CNN và Vatican Radio, viết về "The current Catholic Church - Catholic Scandal" trong cuốn "The Coming Catholic Church."

Lần này, chúng tôi giới thiệu bài viết của Linh mục Morwood. Ở đây chúng tôi không dịch nguyên văn bài viết, nhưng thực tiễn hơn, chúng tôi khai triển những tư tưởng chính yếu của tác giả. Linh mục Morwood tốt nghiệp MA về mục vụ (pastoral ministry) tại Boston College và đã thi hành mục vụ này suốt hai mươi bẩy năm. Ngài là tác giả cuốn "Tomorrow's Catholic", xuất bản năm 1997 và in lần thứ sáu năm 2002. Cuốn sách được nhiều giáo sĩ và giáo sư thần học ca ngợi. Giáo sư thần học Thomas H. Groomer tại Boston viết về Lm. Morwood: "Cuốn Tomorrow's Catholic của Michael Morwood là một cố công can đảm để đem đối diện truyền thông lâu đời và phong phú của đức tin Công giáo với những phát triển mạnh mẽ về xã hội và khoa học giữa thời đại chúng ta. Ngài xác tín rằng "toàn bộ" Công giáo (package of Catholicism) của chúng ta đã lãnh nhận từ thời đại trước không còn thỏa đáng với những thách đố của thời đại ngày nay lâu nữa. Muốn tân trang Công giáo để thích ứng với những thách đố của thời đại mới này, cần chúng ta phải sáng tạo và can đảm.
"

Ngay đầu bài viết, - lại là chương cuối cùng của cuốn sách - tác giả nêu lên một trong những nét nổi bật trong các công tác đối diện với việc lãnh đạo của Giáo hội trong thiên niên kỷ mới, chính là những nét tương đồng với những vị đã đứng ra lãnh đạo Giáo hội trong thời kỳ sơ khai: giúp đỡ các Kitô hữu tập trung vào Chúa Kitô và các giáo huấn của Ngài về Thiên Chúa, giúp đỡ họ ý thức về sự hiện diện của Thánh Thần Chúa trong chính họ và giữa mọi người, và thách thức họ làm chứng tá hăng say về sự hiện diện của Thánh Thần bằng những thể hiện lối sống của họ.

Một nét tương đồng khác nữa là thực tế của thời đại đang biến đổi kinh hoàng trước một thế giới tôn giáo đã được thiết lập vững chắc và ổn định, giờ đây đang rung chuyển đến tận gốc. Vào những thời điểm như thế này, chúng ta cần phải tập trung vào đâu để hoặc giúp chúng ta đối diện và phát triển hoặc sẽ phân chia, ly tán, và làm chúng ta bấn loạn?

Sau khi đưa ra tiền đề vừa rồi, tác giả đề nghị chúng ta ngay bây giờ cũng như luôn luôn phải tập trung vào những niềm tin nền tảng của người Kitô hữu vào Chúa Cha, Chúa Giêsu và chính chúng ta nữa.

  1. Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi. Thiên Chúa vượt xa tất cả những hình ảnh chúng ta có về Ngài. Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, yêu thương và cảm thương vô biên. Thiên Chúa không phải Đấng để bị sợ hãi, nhưng tuyệt đối phải được tín thác.
  2. Chúa Giêsu như một con người nhân linh đã đem thực tại Thiên Chúa trở thành hữu hình đến cho con người. Trong con người của Ngài sống động và yêu thương, chúng ta nhận biết được Thiên Chúa đã mặc thân xác con người. Trong việc Thiên Chúa nâng cao Con Người này đến chỗ viên mãn của cuộc sống Thiên Chúa, chúng ta nhìn thấy vận mệnh của chúng ta. Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta ý nghĩa chúng ta là ai và tỏ lộ khả năng của chúng ta như những con người nhân linh trở thành hình ảnh của Thiên Chúa, được nhìn thấy nơi chúng ta.
  3. Chính vì Chúa Giêsu và việc phục sinh cũng như Lễ Ngũ Tuần, chúng ta dám tin tưởng rằng chúng ta là nghĩa tử của Thiên Chúa, được mời gọi làm chứng tá can trường cho chân lý đó bằng cách thức chúng ta sống và yêu thương. Chúng ta dám hy vọng rằng những gì Chúa Giêsu đã làm trong đời Ngài, sẽ còn được tiếp nối nhìn thấy trong cách thức chúng ta sống cuộc sống của mình hôm nay. Chúng ta chia sẻ cũng một Thần Linh Chúa đã chuyển động nơi Chúa Giêsu.



Giáo hội hiện hữu như một cộng đồng dân chúng tin những chân lý vừa rồi như những tin mừng và phải đem đi loan báo. Cộng đồng Giáo hội phải luôn luôn cố công đem những cái nhìn thấu đáo và những niềm tin này trở thành trung tâm cho cuộc sống mình và bằng mọi cách đạt cho bằng được. Chúng ta kể lại cho người khác các câu chuyện về Thiên Chúa, về Chúa Giêsu, và về những bậc vĩ nhân nam nữ đã thuần thục để Thánh Thần Chúa thể hiện những việc kỳ diệu trong cuộc đời các ngài.

Chúng ta có các nghi lễ, các bí tích và cả phụng vụ nữa. Chúng ta có giáo huấn, giáo lý và các lời giảng dậy. Chúng ta có các luật lệ để duy trì các giá trị Tin Mừng và đảm bảo cho trật tự chung. Chúng ta có các phong tục đạo giáo và các việc tôn sùng. Chúng ta có nhiều thể thức cầu nguyện. Chúng ta có lãnh đạo và uy quyền để cố gắng "ban chủ quyền" cho chúng ta theo chân lý là chúng ta như các Kitô hữu (nhóm B). Niềm hy vọng và ngưỡng vọng của chúng ta chính là những đường nét này của Giáo hội một khi được cảm nghiệm thấy, sẽ dẫn đưa mọi người tập trung vào ba chân lý nền tảng Kitô giáo (nhóm A).

Nhóm A được đặt tên là Niềm Tin Nền Tảng (Foundational Belief) bao gồm các chân lý:
- Chúa Cha: hiện diện khắp nơi, yêu thương, phải được tín thác tuyệt đối
- Chúa Giêsu: vừa là Thiên Chúa vừa là con người
- Chúng ta: những người được chia sẻ Thần Linh Thiên Chúa, Thân Thể Chúa Giêsu.

Nhóm B được đặt tên là Các cách thức duy trì Niềm tin nền tảng (Ways of keeping foundational belief in focus) bao gồm "toàn bộ" Công giáo (Catholic package) như đã liệt kê ở trên như nghi lễ, giáo huấn, huấn quyền, luật lệ...

Ba niềm tin nền tảng (A) như thế phải trở thành những tiêu điểm, nhờ đó chúng ta phán đoán và định lượng các phương thức chúng ta đem ra xử dụng, để tập trung sức chú ý của chúng ta vào nhóm B. Nếu chúng ta nhận ra kinh nghiệm của nhóm B lôi kéo chúng ta ra xa nhóm A, chi phối làm chúng ta bất ổn, khi đó chúng ta cần xem xét lại những kinh nghiệm này. Nếu chúng ta nhận ra chính mình khi được dậy bảo hoặc nghe những câu chuyện về Thiên Chúa khiến chúng ta sợ hãi Ngài hoặc dẫn đưa chúng ta đến tưởng tưởng ra một Thiên Chúa ở cách xa chúng ta, chúng ta cần tra hỏi lại tính chính đáng của các câu chuyện hoặc những lời dậy dỗ. Nếu các tục lệ đạo giáo hoặc các việc tôn sùng khuyến khích chúng ta đi mua chuộc lòng thương xót Chúa hoặc tìm cách chiến thắng tình yêu của Ngài, chúng ta cần tự vấn tại sao chúng ta lại bị khích động đến những suy nghĩ và những hành động như thế? Nếu các lời giáo huấn hoặc giáo lý và những lời giảng dậy chỉ bảo rằng Chúa Giêsu thực sự không phải là một con người như chúng ta, chúng ta đang được báo động phải thận trọng kẻo đi lạc niềm tin nền tảng vào Chúa Giêsu.

Nếu việc chúng ta tham dự vào đời sống phụng vụ và bí tích trong Giáo hội không dẫn chúng ta đi vào kho tàng là Thiên Chúa hiện diện trong chúng ta, như vậy nền tảng của đức tin Công giáo của chúng ta đang tróc gốc. Nếu chúng ta tin rằng Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh đã được cúng hiến trên bàn thờ quan trọng hơn sự hiện hiện của Thánh Thần Chúa thực sự ở trong thế giới, chúng ta phải thức tỉnh ngày, vì chúng ta đã đi trật ra khỏi trung tâm chân lý nền tảng của đức tin về chính chúng ta là Lều Thánh của Chúa. Và nếu như thần quyền, các cấp lãnh đạo tinh thần và luật lệ không được chúng ta cảm nghiệm như những nâng đỡ hoặc đem lại sức sống, chúng ta hãy ý thức rằng tôn giáo của chúng ta đang đánh mất dần mục đích cao cả nền tảng của cuộc sinh tồn.

Lời mời gọi chúng ta phải luôn luôn định giá lại kinh nghiệm về niềm tin đạo giáo và lối thực hành đạo theo ánh sáng của các chân lý nền tảng (nhóm A) đang trở thành những thách đố cho chúng ta, cả trên bình diện cá nhân cũng như cộng đồng. Nhiều người trong chúng ta hẳn đang nhận thấy phần lớn những suy nghĩ tôn giáo của mình được tạo hình do các ý tưởng, các giáo huấn, các tập tục, các hình ảnh, các luật lệ và các ảnh hưởng (nhóm B) đang lôi kéo chúng ta ra khỏi trung tâm nguyên thủy của Kitô giáo. Công Đồng Vaticanô II đã can đảm làm cuộc tự kiểm Giáo hội và đã vạch vẽ cho chúng ta những đi trật hướng này, nhưng vẫn chưa đem lại nhiều kết quả mong muốn. Đối với nhiều giới chức cũng như nhiều tín hữu Công giáo, hiện nay vẫn cảm nhận đây là thời gian đau buồn, nhất là với những ai chỉ sống đạo bám vào các hình thức ngoại vi (nhóm B) hơn là vào chính niềm tin (nhóm A). Với họ, Công Đồng Vaticanô là một thay đổi ngược ngạo làm phân tán lối sống đạo cổ truyền hơn là đem lại một cuộc canh tân Giáo hội thực sự. Với họ, Công giáo không gì khác hơn là quan tâm tới những chuyện như biến thể, luyện ngục, hỏa ngục, ân xá, xưng tội, rước lễ, lần hạt, tội trọng, đi lễ Chúa nhật, tội dâm dục và vâng lời giáo quyền không thắc mắc, trong lúc sống với Chúa thân mật hoặc sống Tin Mừng, đối với họ không quan trọng bằng!

Rồi đây những thế hệ tương lai của chúng ta sẽ nhìn lại Công đồng Vaticanô và nhận ra đây là khúc quanh cho lịch sử Giáo hội Công giáo và chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội. Đến lượt con cháu chúng ta, chúng sẽ đẩy mạnh các tín hữu Công giáo phải đi vào lối sống mới để trở thành người Công giáo chính hiệu mang danh Chúa Giêsu Kitô (Kitô hữu). Không thể là một Kitô hữu mà không hiểu biết tường tận về Chúa Kitô và sống với Chúa Kitô thân tình ngay trong đời sống thường nhật của mình. Và như vậy, vào thời điểm đó, chắc chắn sẽ khởi đầu với những thay đổi phi thường trong lối suy nghĩ và thực hành đạo. Nhìn lại thời gian từ Công đồng cho tới nay, chính ra Giáo hội phải hưởng được nhiều phúc lợi do những thành tựu của Công đồng và ngăn cản được nhiều sai lầm, nhiều phân chia, nhiều chậm tiến, nếu như các giới chức trong Giáo hội đã canh tân chính mình và mở đường canh tân cho các tín hữu trên toàn thế giới. Đàng này Giáo hội vẫn bế quan tỏa cảng trong thực hành nhiều hơn là đi theo con đường canh tân của Công đồng. Điều bất hạnh là để duy trì cho một Giáo hội phẳng lặng ngoài mặt, nhiều giới chức cầm quyền đã tìm cách bịt miệng những tư tưởng khai phóng, thâm sâu của các nhà thần học, các học giả nổi tiếng thế giới, viện cớ là các tín hữu còn non nớt không tiếp nhận được. Như vậy đến bao giờ các Kitô hữu mới tiếp nhận được, dù cho tới nay chúng ta đang ở vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, tức là sau Công đồng đã hơn 40 năm?

Không ai dám phủ nhận Công đồng chính là Lễ Hiện Xuống của Giáo hội trong thời đại mới. Chính Thần Khí Chúa đã thổi những cơn gió canh tân mãnh liệt trong Giáo hội và trần thế, thế nhưng những đường hướng canh tân, đổi mới này lại không được tầng lớp giáo sĩ, nắm giữ vai trò chủ động trong Giáo hội, chấp nhận, rao gỉảng, hướng dẫn, đôn đốc đến nơi đến chốn. Người ta làm ngơ trước những dấu hiệu kỳ diệu của Thánh Thần trong thời đại mới. Ai cũng nhắc đến Công đồng, in sách báo và phổ biến Công đồng trên giấy tờ và những lời rao giảng suông, nhưng thực tế, mấy giới chức am tường về Công đồng và đem áp dụng các nguyên lý Công đồng vào đời sống thực tế của cộng đoàn, của cuộc sống? Có thể chúng ta nhận thấy nhiều thay đổi trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội sau Công đồng, nhưng người tín hữu ngày nay có thực sự sống với ý nghĩa thâm sâu của phụng vụ nhiều hơn không?

Nơi đây đặt ra thách thức cho chúng ta là phải sống một nền tu đức, một linh đạo chính cống Kitô giáo. Chính Công đồng mời gọi mọi tầng lớp Công giáo phải dấn thân thực sự vào đường lối tu đức của Tin Mừng. Chính con đường này sẽ đem lại canh tân cho Giáo hội, cho xã hội cũng như cho gia đình. Theo cái nhìn toàn diện, dầu cho Công đồng đã và đang đem lại nhiều thay đổi trong Giáo hội, tuy nhiên Công đồng cũng đã gây ra một số những phân chia, những lo ngại, những bất ổn trong Giáo hội Công giáo ngày nay. Phải chăng nguyên do chính vì người Công giáo đã không sống theo một nền tu đức đủ kích thước chiều sâu? Người Công giáo vẫn còn khoác bộ áo tu đức của Tin Mừng nhiều hơn là sống thực sự với nền tu đức diệu vợi này?

Tại sao lại thế nhỉ? Tại sao lại có quá nhiều người Công giáo, từ tầng lớp lãnh đạo tới các tín hữu lại vẫn dậm chân tại chỗ với nhóm B hơn là say mê vươn tới nhóm A? Và Linh mục Morwood khuyên chúng ta cứ thử nhìn vào đường lối lãnh đạo của các giới chức Giáo hội trong thiên niên kỷ mới này. Câu trả lời tùy thuộc vào đó.

 

 

 Sứ mệnh phải thay đổi

Trong cuối phần đầu bài lần trước, tác giả đưa chúng ta đến nhận định là hiện nay Giáo hội đang phải đối diện với vấn đề nền tảng là làm thế nào cho mọi tín hữu phải sống một nền tu đức (linh đạo) Kitô giáo chính cống? Đây là nền tu đức Công đồng Vaticanô mời gọi các tín hữu dấn thân vào, một nền tu đức sẽ đem lại sức sống canh tân trong Giáo hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, Giáo hội đang phải đứng trước những phân hóa, những lo ngại, những bất ổn hiện nay. Như vậy phải chăng các người Công giáo đã không ôm ấp nền tu đức thực sự đi vào chiều sâu? Phải chăng người Công giáo vẫn chỉ muốn đứng dậm chân tại mức B, tức là ôm ấp khư khư với "toàn gói" Công giáo hơn là hăng say tiến lên về phía mức A, tức là sống gắn bó với Ba Ngôi Thiên Chúa và với tha nhân?

Sau đó tác giả đề cập về chủ trương trực giải (literalism) trong Giáo hội và tiếp tới là quyền uy (authority) trong Giáo hội. Chúng tôi chỉ rảo qua những phần này. Chủ trương trực giải là chủ trương cắt nghĩa mọi chuyện theo nghĩa đen hơn là nghĩa bóng, nghĩa thâm sâu nằm sau đó. Còn về quyền bính trong Giáo hội, tác giả nhận định quyền bính của Giáo hội Công giáo chẳng còn vui hưởng được vị thế trung tâm lâu nữa như trong thời Trung Cổ với nhiều ảnh hưởng và kiểm soát xã hội tây phương như trước đây. Giáo hội cũng chẳng thể ép buộc các tín hữu phải vâng phục với không thắc mắc trước những quyết định tuyệt đối về lối sống luân lý (moral behavior). Và càng ngày các tín hữu Công giáo, nhất là sau cuộc đại khủng hoảng lạm dụng tình dục vừa qua, đang đòi cho mình quyền được tham dự nhiều hơn vào các trách nhiệm trong Giáo hội, vào việc chia sẻ với hàng giáo phẩm về những quyết định có liên quan đến đời sống của họ, mục vụ của họ, tương lai giáo xứ của họ. Đây là hiện tương mới khá phổ biến trong Giáo hội hiện nay và càng ngày người ta càng nhận ra nhiều điều vỡ mộng, nhiều bất bình giữa những người Công giáo dấn thân khi họ va chạm với uy quyền trong Giáo hội.

Trước những biến chuyển, những xu thế của thời đại mới, nhiều giáo sĩ vẫn còn khư khư ôm chủ trương chống lại, lên án tất cả những ai muốn đổi mới, muốn canh tân. Tại sao lại phải thay đổi những gì từ trước tới nay được coi như những linh ứng thần thánh và được điều hành trôi chảy trong Giáo hội? Từ đây tầng lớp giáo sĩ chủ trương kìm chế tối đa không chia sẻ quyền lực và quyền quyết định (decision-making process) cho tầng lớp giáo dân. Từ đây một số giáo sĩ tìm đủ mọi cách để chống đối lại, kể cả bằng những phương tiện "hạ cấp", những gì gây ra khác biệt hoặc thay đổi hiện trạng phẳng lặng trong Giáo hội.

Thế rồi, hiện nay chúng ta đang sống giữa những đổi thay khổng lồ của thời đại, với một hoán chuyển ngôi vị trong tầm nhìn về thế giới, về những hình ảnh, về ngôn ngữ hằng tồn tại bao thế kỷ, ngày nay đang sẵn sàng đặt lại vấn đề cho bất cứ một xác quyết nào mang tính chất uy quyền. Hiểu theo một nghĩa nào đó, thời đại ngày nay Giáo hội đang trải qua những kinh nghiệm song hành của cuộc Exodus: chúng ta được mời gọi dời bỏ sự yên ổn của quá khứ (nhiều điều nằm trong loại B) và di hành vào một thời đại đi lang bạt, như trong sa mạc, tìm đường về miền Đất Hứa, để định hình cho Giáo hội trong tương lai.

Chúng ta chẳng biết được khi nào chúng ta đặt chân tới đó, chúng ta cũng chẳng biết được hình thái sẽ khai diễn tới đâu. Điều chúng ta tập trung vào cuộc di hành này hoặc sẽ phân hoá chúng ta, gây lo lắng cho chúng ta, đem lại thất vọng cho chúng ta hoặc sẽ nối kết chúng ta gắn bó hơn, tin tưởng hơn, hy vọng hơn và cam kết hơn. Chúng ta biết rằng Giáo hội ngày mai sẽ không thể dậm chân tại chỗ với nền thần học có nhiều điều lỗi thời (outdated theology). Với một số người Công giáo dấn thân, xem ra Giáo hội đã dẫn dắt họ đi trong nền tu đức 'kín cổng cao tường' với những lập luận lý thuyết liên kết với nhóm B hơn là nhóm A.

Chuyện tham gia vào việc đưa ra quyết định, được lắng nghe trong các vấn đề quan yếu, đề cao vai trò sáng tạo của Thánh Thần Chúa giữa chúng ta, và ý thức thâm sâu Thánh Thần Chúa đang tác động trong nhiệm thể Giáo hội, tất cả đều thuộc về một nền tu đức thâm sâu. Và đây là điều chúng ta cần nhìn thấy phải được điều hướng trong Giáo hội như một Lễ Hiện Xuống (Pentecost).

Nền tu đức Hiện Xuống nhấn mạnh đến giá trị của từng cá nhân, đến tài năng, đến cộng đoàn sáng tạo, đến việc tôn trọng các khác biệt, trong lúc vẫn đi kiếm tìm những điểm đồng thuận, những nét sáng tạo và những cách thức phục vụ tha nhân. Cần phải ý thức rằng con người thời đại hôm nay không chấp nhận mình bị đối xử như những đồ vật trong cơ chế Giáo hội. Giáo hội ngày nay cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân, cung ứng các cơ hội thăng tiến cá nhân và giúp từng người thẩm định được giá trĩ và khả năng của họ và tận dụng vào việc đem lại lợi ích cho cơ chế trong việc phục vụ tha nhân, đó là tất cả những khía cạnh quan trọng của hình thái tổ chức mới.

Vào tháng tám năm 1996, Cố Hồng y Bernadin của giáo phận Chicago triệu tập buổi hội thảo quốc gia Hoa Kỳ đề cập về những vấn đề đang đe dọa tương lai của Giáo hội Công giáo. Ngài quan tâm về cách thức giáo quyền đang làm các tín hữu xa tránh bằng việc loại bỏ không cho phép bàn thảo về các vấn đề như linh mục lập gia đình, truyền chức cho phụ nữ, điều khiển giáo hội, tổ chức phụng vụ, ngừa thai và nhiều vấn đề liên hệ tới giới tính, và việc suy thoái đến nhà thờ. Trong một diễn từ quan trọng, ngài xác định,

"Tôi bị giao động trước những phân cực gia tăng trong Giáo hội và hiện tại tính sinh động yếu kém đã làm cản trở công việc đối thoại giúp chúng ta nói lên được sứ mệnh và quan tâm của chúng ta. Và kết quả là công việc hiệp nhất trong Giáo hội bị đe dọa, một tặng phẩm quý trọng của Công đồng Vaticanô đang lâm nguy trầm trọng, các thành phần trung thành của Giáo hội đang ngao ngán và chứng tá của chúng ta với chính quyền, xã hội và văn hóa đang bị phương hại."

Cố Hồng y Bernađin giới thiệu một tài liệu được Trung tâm Mục vụ Quốc gia soạn thảo mang tựa đề "Được mời gọi là người Công giáo." Tài liệu này được xử dụng như khung sườn giúp nuôi dưỡng suy tư về các vấn đề cần quan tâm (chúng tôi đã phổ biến tài liệu này trên Tiếng Nói Giáo Dân cách đây khoảng nửa năm).

Hồng y Law của Boston (một Hồng y uy thế nhất của Giáo hội Hoa Kỳ đã bị ép phải từ chức vì tội bao che những linh mục phạm tội lạm dụng tình dục trẻ em vào năm 2002), gọi lời mời gọi của Cố Hồng y Bernadin là "tai hại" (unfortunate). Tại sao lại kêu gọi đối thoại như một đường lối dẫn đến "vùng đất đứng chung" (common ground)? Hồng y Law xác quyết một cách võ đoán,

"Giáo hội đã có 'vùng đất đứng chung' rồi. Vùng đất được xây dựng trên Kinh Thánh và giáo truyền và được truyền đạt đến chúng ta nhờ giáo quyền và huấn quyền. Bất đồng với chân lý mạc khải hoặc huấn quyền của Giáo hội không thể được gọi là đối thoại được."

Lập luận của Hồng y Law chống đối lại sáng kiến của Cố Hồng y Bernadin được những giới chức khác trong hàng giáo phẩm ủng hộ. Và khi Hồng y Bernadin tạ thế vào tháng mười một, tờ Tablet của Luân Đôn viết trong bài xã luận: "Những chức sắc Công giáo đã di động khá xa về phía cánh hữu đến nỗi họ nghi ngờ bất cứ một lời mời gọi nào sang phiá bên kia, nơi phát sinh những phát triển thâm sâu nhất trong Giáo hội."

Những phát triển thâm sâu nhất trong giáo hội ngày nay không đến từ những gì Hồng y Law hạn định vào danh từ "vùng đất đứng chung," bao hàm trọn gói giáo lý và huấn quyền, nhưng đến từ các nhà thần học, các nghiên cứu nghiêm chỉnh đi thẳng vào những vấn đề thích đáng và sâu xắc mà từ trước tới nay chưa từng được đề cập trong quá khứ. "Vùng đất đứng chung" của Hồng y Law chỉ là một thực tại cố định, một trọn gói giáo điều truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong lúc không đếm xỉa gì đến những vấn đề và những hiểu biết thâm sâu của thời đại hôm nay.

Kết quả đau thương là gì? Chỉ sau năm sáu năm Cố Hồng y đưa ra sáng kiến "Vùng đất đứng chung Công giáo," Giáo hội Hoa Kỳ lâm vào cơn đại khủng hoảng lạm dụng tình dục. Từ đây bộc lộ ra tính cách sống đạo hình thức, sùng thượng giáo quyền và làm ngơ cho sa đọa luân lý ăn sâu trong Giáo hội. Từ đây nhiều giáo dân đánh mất niềm tin nơi sự khả tín của giáo quyền và nổi giận với thái độ bao che tội lỗi trong Giáo hội và vô trách nhiệm với những đau khổ của những trẻ em bị lạm dụng. Hồng y Law không nhìn nhận lỗi lầm cho đến khi bị hàng hàng lớp lớp tín hữu áp lực phải từ chức. Từ cơn đại khủng hoảng niềm tin này, còn lâu Giáo hội Hoa Kỳ mới tái tạo lại được niềm tin mà tuần báo Time mùa Phục Sinh 2002 đặt chủ đề: "Giáo hội Công giáo có thể cứu vãn được chính mình không?" (Can the Catholic Church save Itself?)

Nhìn vào thực trạng thế giới hiện nay, làm thế nào chúng ta nói về Thiên Chúa trong một xã hội đã đánh mất ý nghĩa của những gì là thần thiêng và nhìn quan điểm tôn giáo đề cập về Thiên Chúa là chuyện vô nghĩa? Làm sao chúng ta nói về Chúa Giêsu giữa xã hội xem ra không cần đến dung mạo một Thiên Chúa nhập thế để cứu độ con người?... Và còn muôn vàn vấn nạn đương thời mà Kinh Thánh và Thánh Truyền không đề cập tới hoặc không tranh luận.

Những vấn nạn vừa rồi và nhiều vấn nạn khác đề cập về "sự thật" của ngày hôm nay. Đây là những vấn nạn "vùng đất đứng chung" nối kết chúng ta như những thành phần của Giáo hội Công giáo. Chúng sẽ nối kết chúng ta hơn nếu như chúng ta được khích lệ dấn thân vào các nan đề này và cùng chung nhau tìm hiểu và cố công tìm câu giải đáp như những người Công giáo có trách nhiệm và cam kết. Chúng ta hẳn sẽ khám phá ra "sự thật" không phải trọn gói tiện nghi do một thành phần trong Giáo hội có trách nhiệm phải chia sẻ với thành phần đại đa số của chúng ta. Chúng ta hẳn khám phá ra rằng chúng ta được mời gọi để sống với nhiều vấn đề, nhiều huyền bí, nhiều ẩn số và nhiều mâu thuẫn hơn chúng ta tưởng tượng. Chúng ta hẳn khám phá ra như Michael Dowd phát biểu:

"Chuyển động Kitô giáo ngày nay còn ở trong những giai đoạn sơ khai tìm kiếm cho chính mình và cho thế giới những hàm chứa của Kinh Thánh. Chúng ta không chút nghi ngờ rằng những xác quyết niềm tin lớn lao nhất và mạnh bạo nhất nằm ở trong tương lai, chứ không hẳn ở trong quá khứ."

Điều thảm hại là những xác quyết như thế không tìm được chỗ chấp nhận trong những thành phần cao cấp thuộc giáo quyền hiện nay.

Hiện nay chúng ta có thể nhìn thấy "chủ trương phục hưng" đang diễn tiến trong một số lãnh vực thuộc giáo hội ngày nay. Đây là một phong trào "trở lại quá khứ", dừng bước để nắm bắt lại hào quang và yên ổn mà Giáo hội đã vui hưởng trước "chủ nghĩa tân thời" (modernism) và trước thời đại đặt vấn đề, bất tuân phục và theo chủ nghĩa cá nhân.

Chủ trương phục hưng cổ võ cho phương pháp giảng dậy mạnh mẽ và uy quyền trong Giáo hội. Điều thảm hại là các tín hữu, nhất là giới trẻ, không biết đến đức tin. Họ cũng chẳng biết đến giáo lý. Làm thế nào chúng ta chỉ dậy cho họ rõ ràng và vững chắc? Giúp họ hiểu biết về truyền thống là điều tối quan trọng.

Thời đại học giáo lý như con vẹt đã qua đi rồi. Nhiều hình ảnh và ngôn từ về niềm tin tôn giáo không còn mang ý nghĩa gì với tuổi trẻ ngày nay. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà tất cả mọi chuyện đều đặt thành vấn đề. Và như vậy những ngày sống yên ổn đã qua đi khi những người dậy dỗ chỉ cần đòi người ta đơn thuần chấp nhận những gì mình đã trình bầy. Và như vậy chắc chắn xẩy ra những xung khắc không thể tránh được giữa sách Giáo lý và những suy tư của thời đại.

Việc mời gọi trở lại những giáo huấn trong sáng và vững chắc kèm theo thái độ chấp nhận không thắc mắc, cũng như tiến trình phục hưng cho những nan đề của Giáo hội ngày nay đang kêu gọi các tín hữu trở về với những việc sùng đạo nổi bật trong quá khứ như lần chuỗi, chầu Thánh Thể, Giờ Thánh, xưng tội, học giáo lý, rước kiệu, các hình thức tôn sùng Thánh Mẫu, mặc áo tu sĩ. Lý luận như thế xem ra trôi chảy trong quá khứ; tất cả các xáo trộn đã bắt đầu trong Giáo hội khi chúng ta đánh rơi mất những việc sùng đạo đó; chúng ta hãy quay trở lại và đứng lên đầu những nan đề trong Giáo hội. Khi đó ơn gọi sẽ gia tăng, và chúng ta trở lại lối sống đạo trước Công đồng Vaticanô. Như vậy chúng ta đã lật được thế cờ.

Nhưng chúng ta không có con đường nào trở lại như vậy được nữa. Người Công giáo trong tương lai phải đương đầu với công việc to lớn là tạo hình niềm tin của mình khi vẫn tôn trọng khoa học hiện đại, thẩm định thần thoại, tưởng tượng, huyền bí, chuyện kỳ lạ, biểu tượng và sức mạnh của câu chuyện, lời dậy dỗ của Chúa Giêsu, kiến thức về cách thức niềm tin đã được công thức hóa thành giáo điều, và nhận thức thâm sâu về Thánh Thần Chúa nơi họ. Các tín hữu này cần được giúp đỡ để chọn lọc những căn bản của kiến thức thâm sâu Kitô giáo để trở thành siêu việt từ toàn bộ lịch sử và quảng diễn trong quá khứ. Tích cực cung ứng và thăng hoa những giúp đỡ này ở mọi mức độ đời sống Công giáo, đó là trách nhiệm trọng đại nhất của Giáo hội Công giáo khi phải đối diện với thiên niên kỷ mới.

 

 

Con đường tiến đến tương lai



Nền thần học chính truyền Công giáo tỏ ra rất tôn trọng các truyền thống trong Giáo hội và chủ trương phục hồi lại những gì đã có, đang có và sẽ tiếp tục duy trì như thế.
Trong lúc, các nhà thần học ngày nay lại xác quyết rằng những yếu tố đã cấu tạo niềm tin và những thực hành đạo giáo từ trước đến nay, thì giờ đây nhiều yếu tố không còn thích đáng nữa, không còn thích hợp nữa. Khuynh hướng này nhấn mạnh hoạt động của Thiên Chúa giữa con người trần thế đầy kỳ diệu, ngoài trí óc tưởng tưởng của chúng ta, luôn luôn sáng tạo, không bao giờ bị gò bó trong những hiểu biết hạn hẹp của con người.

Hậu quả của biện chứng này xem ra với những người Công giáo "ngoan đạo" là bây giờ mọi chuyện đều có thể đặt lại thành vấn đề. Như vậy không còn gì là niềm tin vững chắc cả cho những gì mình tin sao? Linh mục này dậy một đàng, linh mục kia lại dậy một nẻo khác. Giáo hoàng ban bố thế này, linh mục lại hướng dẫn kiểu khác. Người tín hữu sống trong hoang mang, giao động, lẫn lộn.

Lịch sử chứng minh rằng một câu trả lời đặc biệt cho tình trạng lẫn lộn này không đem lại hiệu quả tốt đẹp cho Giáo hội. Câu trả lời đó là hãy dập tắt những tiếng nói gây ra giao động trong dân Chúa và mọi người hãy cùng bảo toàn "vùng đất đứng chung" là "toàn bộ" chân lý cần được dậy dỗ và học hỏi tiếp tục. Với khuynh hướng bảo thủ này, các chức sắc giáo quyền hầu như không quan tâm đến việc chuẩn bị cho các thế hệ tương lai đương đầu với những thách đố của niềm tin trong mỗi thời đại.

Người tín hữu Công giáo ngày nay đang trải qua những hậu quả bi thương của thái độ sống im lặng chịu đựng (thí dụ như hoàn cảnh những người sống "rối rắm" hoặc các cặp vợ chồng trẻ phải đối diện với việc ngừa thai). Thái độ im lặng và không muốn thăng tiến việc học hỏi mới nơi các tín hữu đang đem đến hậu quả là tồn tại nơi người Công giáo một sự dốt nát thảm hại về Kinh Thánh, dốt nát về cách thức các biến cố lịch sử đã định hình niềm tin và các việc tôn thờ và nhất là hầu như không được chuẩn bị đón nhận những canh tân ồ ạt của Công đồng Vaticanô II. Hậu quả là người Công giáo thấy mình quá kém cỏi hiểu biết thần học nền tảng về những vấn đề đức tin và luân lý đang gây ra nhiều tranh luận.

Hầu như trên mọi trình cấp trong Giáo hội, các vấn đề nhậy cảm về đức tin và luân lý đều bị cấm cản không cho thảo luận. Những ai nêu lên những vấn đề này một cách công khai, thật dễ dàng bị "chụp nón" là rối đạo, là tà giáo. (Như vậy thật dễ hiểu tại sao lại tồn tại loại ngụy biện "chống cha là chống Chúa, chống Giáo hội”). Đã có những cấm chỉ không được đem ra thảo luận về những vấn đề nhậy cảm và nếu có linh mục nào dám phá rào đem ra giảng giải trong địa phận, ông sẽ bị thuyên chuyển đi nơi khác vì phạm vào tội bất trung.

Giáo quyền ở bất cứ trình cấp nào sẽ được nhiều người mến trọng nếu như các ngài tỏ ra thái độ muốn lắng nghe và học hỏi, cởi mở đón nhận những nhận thức mới và quan điểm mới, cũng như tỏ ra khoan dung với những suy nghĩ khác biệt đáng quan tâm.

Kinh Thánh, Chúa Giêsu và sự hiện diện thực sự đầy yêu thương của Thiên Chúa trong thế giới hiện nay, phải trở thành nền tảng cho niềm tin Kitô giáo ngày nay. Hẳn chúng ta không hy vọng tất cả những ai đang hành xử giáo quyền và lãnh đạo trong Giáo hội cởi mở đón nhận các nhà thần học, các học giả nghiên cứu Kinh Thánh và thôi thúc người Công giáo ham mê những điều sâu sắc và rung động từ những học hỏi này? Hẳn chúng ta không trông đợi các giới chức này nhận ra nhu cầu khẩn thiết là trình bầy Chúa Giêsu và công cuộc cứu độ của Ngài bằng những lối diễn tả không bị lệ thuộc vào một thế giới quan (toàn gói chân lý) cổ điển? Hẳn chúng ta không mong muốn các giới chức này xác tín công bố tin mừng là Thần Trí Chúa đang tác động giữa dân của Ngài ngày hôm nay? Hẳn chúng ta không ngưỡng vọng người Công giáo ngày nay được thách thức phải làm chứng tá cho một nền luân lý vững mạnh, vì họ là những người trước tiên đã được phát triển niềm xác tín vững mạnh về chính họ đang là Đền Thờ của Thiên Chúa?

Nhiều người Công giáo hy vọng gặp được những giới chức lãnh đạo như thế trên mọi trình cấp. Một số người muốn cống hiến thời gian và tài năng vào công việc phục vụ công việc lãnh đạo này. Họ muốn tham gia và cảm nghiệm vào một giáo hội với một giới chức lãnh đạo tỏ ra vững mạnh, hiểu biết, nâng đỡ, và chấp nhận thách đố.

Nhiều người Công giáo đặt hy vọng những giới chức giáo quyền và lãnh đạo biết thể hiện việc thăng tiến một nền tu đức hay linh đạo đích thực trong cả Giáo hội. Nền tu đức đích thực là nền tu đức có trái tim và tâm hồn của Lễ Hiện Xuống, nghĩa là dám liều thân và tín thác. Đó là lý do tồn tại của Giáo hội. Đó là điều Giáo hội được mời gọi sống thiện hảo như thế. Nền linh đạo này, đặt nền tảng nơi niềm tin căn bản của Kitô giáo về Thiên Chúa, về Chúa Giêsu và về chính chúng ta, phải trở thành tiêu điểm cho chúng ta trở về, khi chúng ta định giá những lời giáo huấn, các nghi lễ phụng vụ, việc sở hữu tập thể Giáo hội, và việc mở cửa trước các thay đổi mới.

Chúng ta có dám kiên trì làm chứng tá cho tất cả những hoạt động này như một sức mạnh thần thiêng ở giữa chúng ta không? Làm thế nào các giới chức lãnh đạo hoặc giáo quyền kiên quyết xác tín và khuyến khích các tín hữu thể hiện chân lý này? Các giới chức có dám tín thác nơi các tín hữu sống như thế không? Phải chăng nền phụng vụ của chúng ta phản ánh được niềm vui của chân lý này? Các tác vụ trong giáo xứ có thực sự xây dựng trên niềm xác tín rằng Thánh Thần hiện hữu trong mỗi người tín hữu?

"Vùng đất đứng chung" trong khung cảnh Kitô giáo phải đặt trên nền tảng là niềm tin vững mạnh nơi Thiên Chúa, nơi bản chất chúng ta thông hiệp với Ngài, nơi mối giây kết hiệp với Chúa Giêsu, nơi niềm tin vào chính chúng ta là nghĩa tử của Thiên Chúa, nơi ý nghĩa chúng ta đem đến cho cuộc sống, và nơi vai trò của Giáo hội. Nếu tất cả những điều đó trở thành nội dung cho những gì chúng ta kiếm tìm, như vậy khả năng chúng ta cam kết cho chân lý sẽ giúp chúng ta sẵn sàng đặt ra các vấn nạn, tìm hiểm và học hỏi thêm, tin tưởng vào các kinh nghiệm của chúng ta, trao đổi những lẽ khôn ngoan với các tôn giáo khác, và dám loại bỏ những những hình ảnh cũ, hoặc những thế giới quan cũ, hoặc khuôn mẫu cũ không còn thích ứng với thời đại chúng ta hôm nay.

Với thiện chí muốn bỏ lại thái độ độc tôn, độc hữu của mình về chân lý tôn giáo, với việc trải lòng ra khám phá thực tại Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi, và trong niềm tin rằng sự hiện diện của Thiên Chúa luôn luôn sáng tạo và vượt quá óc tưởng tưởng của chúng ta, Giáo hội Công giáo sẽ trở thành chiếc đèn pha mới đem đến hy vọng và lãnh đạo cho thế giới. Hình ảnh Kinh Thánh sẵn sàng chấp nhận phải chết đi để đem lại những hoa trái mới, hẳn phải trở thành một thách thức cho Giáo hội Công giáo trong thiên niên kỷ này. Giáo hội, như một tinh hoa của Kitô giáo, phải cống hiến chính mình thành một sứ điệp cứu độ. Sứ điệp này và nền linh đạo Hiện Xuống (spirituality of Pentecost) sẽ trở thành tin vui cho toàn thế giới. Sứ điệp này được cống hiến cho thế giới trong niềm xác tín rằng Giáo hội Công giáo hiện hữu tràn đầy yêu thương toàn thể nhân loại và mọi tôn giáo đang đi tìm kiếm một Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ đầy thần diệu. (Michael Morwood, MSC, Tomorrow's Catholic, Twenty-Third Publications, 2002, tr. 114-136)

Đi tìm Ngôi Sao của thời đại


Chúng tôi vừa trình bầy với quý độc giả chương cuối cùng của linh mục Michael Morwood mang tựa đề "Leadership in a New Millenium" trong cuốn "Tomorrow' s Catholic." Những dòng chữ của chúng tôi ở đây cũng như chương cuối cùng của cuốn sách không phải là những dòng chữ cuối cùng để gấp lại, nhưng thực sự đây là điểm khởi đầu để mời quý độc giả đi vào suy tư.

Thực thế, mỗi thời đại Thiên Chúa đưa ra những dấu chỉ mới, những ngôi sao mới để các tín hữu trong Giáo hội của Ngài lên đường, như ba vị đạo sĩ khi xưa, đầy can đảm và thách thức đi tìm ý nghĩa mới của Ngôi Sao. Ngôi Sao khi xưa đã dẫn ba nhà đạo sĩ đến gặp được Chúa Giêsu và tôn thờ Ngài nơi máng cỏ Bêlem của vùng trời Palestine, thế thì Ngôi Sao ấy ngày hôm nay còn dẫn đường cho Giáo hội tìm gặp được Ngài giữa những đổi thay đột biến của thế giới ngày nay không? Kinh thành Giêrusalem khi xưa đã khước từ không cho Đức Maria hạ sinh Chúa Giêsu tại đây và phải lững thững đi giữa trời lạnh giá tìm đến cánh đồng hoang Bêlem, thế thì Giáo hội của Chúa ngày hôm nay, là Thân Hình huyền nhiệm của Ngài, trong đó có chúng ta, Giáo hội này còn được thế giới đón nhận hay khước từ? Giáo hội của chúng ta, giữa thế giới này, phải chăng những nhà lãnh đạo Giáo hội không làm sống lại hành trình nhập thế, truyền đạo và cứu thế của Chúa Giêsu khi xưa, nhưng không phải trong khung cảnh của Palestine, nhưng trong khung cảnh của thời đại hôm nay?

Giáo hội đã trải qua bao thời đại hưng thịnh cũng như suy vi, từ thời Giáo hội tiên khởi nồng nhiệt, rồi bị bách hại suốt 300 năm trong đế quốc Roma. Sau đó lại được phục hưng trở thành quốc giáo. Dần dà với thời gian, Giáo hội lại tách thành Giáo hội Đông phương và Tây phương. Chưa hết, trước những hủ hóa lan tràn trong Giáo hội, từng nhóm người đứng lên yêu cầu Giáo hội sửa sai và canh tân, thay vì được lắng nghe và đón nhận, họ lại bị xua đuổi và kết án, từ đây Thân Hình huyền nhiệm Chúa Kitô lại chia ra hàng trăm mảnh. Tiếp tới thời đại Ánh Sáng, Cách mạng Pháp, Phát Xít, Cộng sản, Giáo hội bị loại dần khỏi các lãnh vực trần thế để kéo về cố thủ trong các thánh đường, các dòng tu hoặc có khi phải chui dưới hầm (như Giáo hội Trung Hoa hiện nay).

Đâu là dấu chỉ của thời đại mới? Đâu là Ngôi Sao của Chúa Giêsu đang xuất hiện hay vụt tắt trên hành trình của Giáo hội giữa thế giới ngày nay? Chắc chắn Ngôi Sao ấy không còn xuất hiện ở Bêlem nữa, nhưng ở giữa thời đại hôm nay. Các nhà lãnh đạo cũng như các tín hữu của Chúa Kitô ngày nay còn nhìn ra ánh sáng của Ngôi Sao dẫn đường hay không? Chắc chắn đã có nhiều người lạc lối khi Ngôi Sao dừng lại nơi chốn kinh thành tráng lệ và không còn nhìn thấy Ngôi Sao dẫn đường nữa. Nhưng cũng chắc chắn có những nhà lãnh đạo Giáo hội, những tín hữu lại tìm thấy Ngôi Sao dẫn đường, khi họ chấp nhận rời bỏ chốn phồn hoa đô hội để tiếp tục dấn thân vào con đường phiêu lưu mạo hiểm.

Nhà lãnh đạo chúng ta quý mến nhất phải chăng không là Thánh Giuse, một con người âm thầm, nhưng quả cảm, luôn luôn biết lắng nghe tiếng nói thầm thỉ của Thánh Thần để hướng dẫn Giáo hội nhỏ bé ban đầu là gia đình Nagiarét? Thánh Giuse đã dẫn dắt Giáo hội nhỏ bé này từ hành trình dẫn đến Bêlem, rồi trốn sang Ai Cập và sống lang bạt nơi đất khác quê người, rồi lại trở về Palestine, nhưng không phải sinh sống tại thành thánh Giêrusalem, nhưng tại ngôi làng heo hút miền Galilêa với nghề thợ mộc. Thánh Giuse đã dìu dắt Hội Thánh nhỏ bé và thích nghi qua mọi hành trình trần thế, để hoàn thành tiếng nói đầy sáng tạo và yêu thương của Thiên Chúa, trong thái độ đầy vâng phục và tín thác. Phải chăng Thánh Giuse, được Giáo hội tôn phong là Thánh Cả, không là mẫu gương để các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tín hữu Công giáo noi theo trên hành trình đi vào thiên niên kỷ thứ ba này, khi biết lắng nghe tiếng Thánh Thần, sẵn sàng lên đường và chấp nhận mọi thách thức và đổi thay của thời đại? Niềm hy vọng của Giáo hội và của thế giới phải chăng phát sinh từ đây?

Hoàng Quý, nhân mùa Giáng Sinh 2004