Hậu Qủa
Của Sự Ly Dị
Ðối Với Con Em Trong Gia Ðình
Trong các gia đình Việt Nam
trên đất Mỹ càng ngày càng có nhiều cặp ly thân và ly dị sau một
thời gian chung sống. Hiện tượng này xẩy ra trong các cặp đã lớn tuổi
cũng như trong các cặp trẻ vừa lấy nhau một hai năm. Vì thiếu sự nâng
đỡ của đại gia đình, thiếu sự kìm hãm của của phong tục tập quán cổ
xưa, vì chủ nghiã cá nhân được đề cao trên đất Mỹ, vì người phụ nữ
có thể tự lập cánh sinh mà không cần sống bám vào người chồng, vì
nước Mỹ đất rộng, người nhiều, các cặp lớn tuổi cảm thấy dễ bị xô
đẩy vào đường ly tán. "Anh đi đường anh, tôi đường tôi, Tình nghiã đôi
ta có thế thôi.
Tôi được biết nhiều cặp đã sống với
nhau trên hai chục năm, tuy nhiên vì hoàn cảnh thời cuộc và sự bó
buộc của nền giáo dục Khổng Mạnh, và vì danh dự gia đình và vai vế
trong xã hội đã ăn ở với nhau cho đến ngày di cư tháng tư 75. Sang đến
bên này họ không còn cần thấy phải tiếp tục gìn giữ một hôn nhân
đã đổ vỡ từ lâu. Các bà phải đi làm vì nhu cầu hai đồng lương, và
từ đó cũng dễ thoát ly nếu cần. Ngoài xã hội, trước những hành
động và cử chỉ lịch sự của đồng nghiệp, các bà dễ nẩy ra ý tưởng so
sánh với đức ông chường cau có, gắt gỏng và đối xử kiểu chồng chúa
vợ tôi.
Các cặp trẻ cũng vậy, họ lấy nhau mà
không ý thức được sự ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân và bổn phận
đối với con cái. Kể cả các cặp đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cho hôn
nhân Công Giáo, và đã thề hứa trước mặt Thiên Chúa và giáo hội là
sẽ thương yêu, và kính trọng nhau suốt đời. Mỗi khi có sự đổ vỡ là
có sự đau khổ xẩy đến với những đứa con.
Trong bài này chúng tôi sẽ nêu lên
những hậu qủa mà con em phải gánh chịu trong một thời gian lâu dài vì
ảnh hưởng của sự đổ vỡ gia đình.
Hai mươi lăm năm sau khi cha mẹ ly dị, con
cái họ tiếp tục gánh chịu ảnh hưởng tâm lý của biến cố này. Theo
một nghiên cứu mới được tuyên bố gần đây, bà Judith Wallerstein, một
tâm lý gia nổi tiếng đã cho hay ảnh hưởng của sự ly dị có tính cách
lâu dài và chồng chất. Ảnh hưởng này khiến cho những đứa con của
các cặp ly dị thiếu khả năng đối phó với những thách đố của thời
niên thiếu và trưởng thành. Ngay cả khi chúng bắt đầu gây dựng những
mối tương quan tình cảm vào tuổi hai mươi và ba mươi, chúng tiếp tục
phải vật lộn với những sợ hãi lo âu gây ra bởi sự ly dị của cha mẹ
chúng.
Theo bà Wallerstein, ảnh hưởng của sự ly
dị tái diễn trong suốt ba chục năm đầu của cuộc đời đứa trẻ. Trong
khi điều này không khiến cho chúng thất bại như một người lớn, nhưng
vẫn làm cho những thách đố của việc trưởng thành trở nên khó khăn
hơn.
Bà Wallerstein cũng nhấn mạnh rằng hệ
thống pháp lý của Hoa Kỳ gây cho ảnh hưởng của sự ly dị thêm nặng
nề hơn khi bó buộc con cái của các cặp ly dị phải tuân theo phán
quyết của toà án về các sự sắp xếp liên quan đến quyền dưỡng dục
(legal custody) và quyền thăm viếng (visitation). Những phán quyết này
chỉ chú ý đến tiện nghi của cha mẹ mà không để ý đến nhu cầu hay
ước vọng của con cái.
Những đứa trẻ tham gia cuộc nghiên cứu
của bà than phiền là bị bó buộc phải tự đi một mình đến thăm cha hay
mẹ, và bị đẩy đi chỗ khác vào dịp gia đình đi nghỉ lễ. Bà yêu cầu toà
án thăm hỏi ý kiến của những đứa con trước khi lấy quyết định về
vấn đề này.
Chúng cho biết khi cha mẹ mới ly dị,
chúng rất cô đơn, sợ hãi (terrified) rằng chúng sẽ bị cả hai cha mẹ
bỏ rơi. Chúng thường bị bỏ vào những nhà giữ trẻ trong khi mẹ chúng
phải đi tìm việc làm. Kinh nghiệm đau buồn này khiến cho chúng dễ bị
lôi cuốn vào việc sài ma tuý rượu chè ở tuổi vị thành niên.
Một phân nửa trong số 131 đứa trẻ tham
gia cuộc nghiên cứu đã sài ma tuý nặng ngay trước khi đạt đến lứa
tuổi 14. Một phần ba chấm dứt việc học ở bậc trung học. Cuối cùng
thì 40 % cũng học xong đại học. Nhưng chỉ có 6 đứa được gia đình trợ
cấp học phí toàn phần, số còn lại phải tự túc đi làm để trả tiền
học, mặc dầu đa số có cha là những chuyên gia có lương cao hay những
thương mại gia hết sức thành công. Khi chúng đạt đến lứa tuổi hai mươi,
"tất cả đều sợ hãi sẽ tái diễn lỗi lầm của cha mẹ chúng khi chúng
bắt đầu yêu đương."
Bà Wallerstein cho hay chỉ có một phần tư
trong nhóm 26 đứa lập gia đình và trong số này có hai đứa đã ly dị.
Một phần tư kia, không có bạn trai hay gái, và phân nửa còn lại
"vẫn
còn đang tìm kiếm, hoặc chỉ có bạn chơi vớ vẩn chứ không gắn bó." Dù
nghiên cứu của bà Wallerstein có đúng hay không, đây vẫn là một
tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta đừng đi vào con đường gây nguy hại cho
con cái chúng ta trong tương lai.