Hội Nhập Văn Hóa và Giáo Lý
Bài Thuyết Trình
của Bùi Hữu Thư
Ðịnh Nghĩa:
Văn hóa:
Theo nhân chủng học, lối sống của một xã
hội con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng cách
học hỏi (một ngôn ngữ hay các dấu hiệu khác) và bằng kinh nghiệm.
Các yếu tố hoàn vũ của văn hóa bao gồm tổ chức xã hội, tôn giáo,
cấu trúc, tổ chức kinh tế, và văn hóa vật chất (dụng cụ, vũ khí,
trang phục).(Electronic
Dictionary)
Hội nhập văn hóa:
Hội nhập văn hóa là một từ ngữ mới cho
một bổn phận cũ là kết hợp và bản xứ hóa sứ điệp Ki-tô giáo vào
các văn hóa và dân tộc khác nhau trên thế giới. Thánh Phao-lô và
các nhà truyền giáo tiên khởi đã đáp ứng những thách đố của việc
hòa nhập với đám đông các tín nhữu không phải là người Do Thái.
Công Ðồng Vatican II đã dạy là Phúc Âm cần phải được nhập thế trong
mọi văn hóa để cứu rỗi mọi dân tộc (A Concise Dictionary of Theology,
Gerald O'Collins, t. 104)
Hội nhập văn hóa có nghĩa là "sự xâm
nhập của Phúc Âm vào tầng lớp sâu thẳm nhất của con người và các
sắc dân làm cho họ bị đánh động sâu xa, 'đi sâu vào chính trọng tâm
và gốc rễ' của các nền văn hoá của họ" (GDC, 109).
Ngay
từ khi bắt đầu cố gắng hoàn tất lệnh truyền của Chuá Giê-su là rao
giảng Phúc Âm cho mọi dân nước, hội nhập văn hóa là một sự lo
lắng thường xuyên của Giáo Hội. Ðức Tin Ki-tô giáo được xuất phát
từ tôn giáo và văn hóa cuả người Do Thái, đã được "phiên
dịch" và ""du nhập" vào các sắc dân Hy Lạp, Ý, và
Pháp- Ðức, và kể từ thế kỷ 16, nhờ hoạt động ào ạt của các nhà
truyền giáo, đã được đưa vào các sắc dân bên ngoài Âu Châu. Ngày
nay, vì hiện tượng đa văn hoá lan tràn, ngay cả trong vùng Âu Châu và
Bắc Mỹ, Giáo Hội đã có một ý thức sắc bén hơn về nhu cầu phải
"hội nhập" Phúc Âm vào các nề" văn hóa khác nhau.
Như
Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã nêu lên, có một hoạt động song
hành trong thể thức này: một sự xâm nhập của Phúc Âm vào một môi
trường văn hoá xã hội đặc biệt và một sự giới thiệu người dân
của môi trường này, cùng với nền văn hóa của họ, với Giáo Hội
(Redemptoris Missio, 52). Kết quả là, có một sự hỗ tương trong việc
làm phong phú hóa và cải tiến giữa nền văn hóa điạ phương và đức
tin Công Giáo. Do đó, rõ ràng rằng hội nhập văn hoá không chỉ là
một trào lưu chóng qua, mà là một trách vụ thường trực và quan
trọng về việc Phúc Âm hoá và giáo lý. ("Faith in Cultures, Phan
Dinh Cho, t. 1)
Giáo lý và văn hóa đương thời
Chúng ta có thể nói về giáo lý và việc rao
truyền Phúc Âm nói chung là được kêu gọi để đem sức mạnh của Phúc
Âm vào trọng tâm của các nền văn hóa. Cần luôn luôn nhớ rằng lịch
sử của giáo lý, nhất là về thời kỳ các giáo phụ, trên nhiều
phương diện, là lịch sử của sự hội nhập đức tin, và do đó đáng được
nghiên cứu và suy xét kỹ lưỡng. Ðồng thời đây cũng là một lịch sử
không đóng kín đòi hỏi những giai đoạn sát nhập lâu dài của Phúc
Âm. (GDC 202)
Trách vụ của giáo lý trong việc hội nhập
văn hóa của đức tin
Các trách vụ này gồm có:
-
tìm hiểu kỹ càng nền
văn hóa của các dân tộc và mức độ xâm nhập trong đời sống họ.
-
nhận biết có một
chiều kích văn hóa trong chính Phúc Âm, và nhận biết rằng Phúc Âm
không thể bị tách rời ra khỏi các nền văn hóa trong đó Phúc Âm đã
được rao giảng và đã tìm được lối diễn tả qua nhiều thế kỷ.
-
tuyên xưng sự thay đổi
sâu xa, sự trở lại màPhúc Âm, như một nguồn lực "biến cải và
tái tạo" hoạt động trong nền văn hóa.
-
làm nhân chứng cho sự
siêu việt và bất tuyệt của Phúc Âm về phương diện văn hóa, đồng
thời nhận biết những hạt giống Phúc Âm có thể hiện diện ngay trong
nền văn hóa.
-
thúc đẩy một lối diễn
tả mới của Phúc Âm cho phù hợp với nền văn hóa được rao giảng, để
tìm một ngôn ngữ của đức tin có thể là di sản của tín hữu và do đó
là một yếu tố căn bản của sự hòa đồng.
-
duy trì nguyên vẹn nội
dung của đức tin và bảo đảm sự hình thành về học thuyết của truyền
thống được giải thích và diễn tả, trong khi chú ý đến các tình trạng
văn hóa và lịchsử của những người được giảng dạy, và tránh không
làm biến dạng hay làm sai quấy nội dung. (GDC 203)
Những ai có trách nhiệm về phương thức hội
nhập văn hóa
Việc hội nhập văn hóa cần có sự liên hệ của
tất cả Dân Chúa, và không chỉ là một số ít các nhà chuyên nghiệp,
vì phản ứng của dân chúng cho "sensus fidei" (cảm thức đức
tin) là điều chúng ta không thể quên lãng. Hội nhập văn hóa cần
được hướng dẫn và khuyến khích, nhưng không được ép buộc, nếu không
sẽ gây ra những sự chống đối. Hội nhập văn hóa phải là một sự
diễn tả của đời sống cộng đồng, một đời sống trưởng thành ngay bên
trong cộng đồng mà không phải là kết quả của những cuộc nghiên cứu
tinh vi. Nỗ lực nhập thể Phúc Âm là trách vụ chính của hội nhập
văn hóa, đòi hỏi" sự hợp tác về
giáo lý của tất cả những ai cùng sống trong một hoàn cảnh văn hóa
- giới tu sĩ, các người lo việc mục vụ (giáo lý viên) và giáo dân. (GDC
206)
Các hình thức và phương tiện có đặc quyền
Trong các hình thức thích hợp nhất cho việc hội
nhập văn hóa về đức tin cần nhớ đến giáo lý cho người trẻ và
người lớn trên phương diện các giáo lý này có thể làm giao hòa đức
tin và đời sống tốt hơn. Hội nhập văn hóa cũng không được quên
lãng giáo lý nhập môn cho các trẻ em chính vì khía cạnh văn hóa quan
trọng của thể thức này.
Một phương tiện đặc quyền là giáo lý về các nghi
thức phụng vụ với những dấu hiệu dồi dào để diễn tả sứ diệp Phúc
Âm và khả năng đạt tới phần lớn Dân Chúa. Bài giảng ngày chủ
nhật, nội dung của các bài đọc, và cấu trúc của niên lịch phụng vụ
phải được quý chuộng cùng với những dịp khác đặc biệt cho giáo lý
(hôn nhân, đám tang, thăm viếng người bệnh, ngày lễ các thánh quan
thầy, v..v... Việc chăm sóc cho gia đình luôn luôn là trọng tâm, vì
đây là môi trường chính cho một sự truyền giáo nhập thể của đức
tin.
Trong việc tiếp nhận và tuyên xưng đức tin, giáo
lý cũng nhấn mạnh đặc biệt về các tình trạng đa chủng tộc, đa văn
hóa để đưa đến một sự khám phá và yêu chuộng nhiều hơn" các tài nguyên của nhiều nhóm người
khác nhau. (GDC 207)
Ngôn ngữ
Dưới một vài khía cạnh, hội nhập văn hóa của
đức tin là một trách vụ về ngôn ngữ. Ðiều này có nghĩa là giáo lý
tôn trọng và quý chuộng ngôn ngữ thích hợp cho sứ điệp, nhất là
ngôn ngữ của Thánh Kinh, cũng như ngôn ngữ lịch sử và truyền thống
của Giáo Hội (tín lý, phụng vụ) và ngôn ngữ học thuyết (các sự
hình thành học thuyết). Giáo lý cũng cần đối thoại với các hình
thái và ngôn ngữ thích nghi cho nền văn hóa đối tượng. Cuối cùng
giáo lý phải thúc đẩy những lối diễn tả mới của Phúc Âm trong văn
hóa được vun trồng. Trong thể thức hội nhập hóa Phúc Âm, giáo lý
không được sợ sệt trong việc dùng các công thức truyền thống và
ngôn ngữ kỹ thuật của đức tin, mà phải diễn tả ý nghĩa và chứng
minh sự hiện hữu quan trọng của giáo lý. Cũng vậy, phận sự của
giáo lý cũng là "dùng tiếng nói của học sinh, các nhà trí thức
và khoa học gia; ngôn ngữ của những người thất học hay thuộc về
những văn hóa thô sơ; ngôn ngữ của người tàn tật, v.. v... (GDC 208)
Phương tiện truyền thông
Ðược kết nối mật thiết với vấn đề ngôn ngữ là
phương tiện thông tin. Một trong các phương tiện hữu hiệu và phổ
thông nhất là truyền thông đại chúng. Việc Phúc Âm hóa một nền
văn hóa tân thời tùy thuộc phần lớn vào sự hữu hiệu của các
phương tiện truyền thông đại chúng.
Ðể được hữu ích trong việc hội nhập văn hóa, cần
phải tôn trọng giới truyền thông về khả năng truyền đạt của từng
loại: báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, và mạng lưới hoàn
cầu. Ngoài ra chúng ta cần lưu tâm đến các khía cạnh sau đây: (1)
nhận thức tầm quan trọng của việc xử dụng cân đối ngôn ngữ của
hình ảnh và lời; (2) bảo toàn ý nghĩa tôn giáo thích đáng của các
hình thức diễn tả đã được lựa chọn; (3) cổ võ sự trưởng thành của
khán thính và độc giả giúp họ có những nhận định cá nhân về những
gì tiếp nhận được của giới truyền thông; (4) sản xuất các tài liệu
trợ huấn cho giáo lý phù hợp với mục đích này và (5) cộng tác hữu
hiệu với tất cả những ai tham dự vào các nỗ lực mục vụ.
Giáo lý và nhất là Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo là trọng tâm cho thể
thức hội nhập văn hóa, và phải được dùng để trình bày rõ ràng tất
cả các dịch vụ khác nhau nhắm vào việc hội nhập văn hóa.
Giáo Lý của
Giáo Hội Công Giáo đặc biệt kêu gọi việc soạn thảo các giáo
lý địa phương, tổng hợp những phóng tác đòi hỏi bởi các nền văn
hóa, các lớp tuổi tác, các tu đức khác nhau, và các tình trạng xã
hội và tôn giáo của những người tiếp nhận. (GDC 209)
Môi trường nhân chủng và các khuynh hướng
văn hóa
Phúc Âm tìm kiếm một giáo lý cởi mở, rộng rãi
và can đảm trong việc đến với mọi người ngay tại nơi sinh sống cuả
họ, nhất là ngay tại những môi trường có sự trao đổi văn hóa sơ
khởi và căn bản xảy ra, như gia đình, trường học, sở làm và nơi giải
trí.
Ðiều quan trọng cho giáo lý là phải nhận định và
xâm nhập được những môi trường này. Vì chính ở đây có các khuynh
hướng văn hóa chính có ảnh hưởng lớn trên việc cấu tạo và biểu
hiện những mâu thuẫn về các mẫu mực của đời sống: như đời sống thị
thành, hiện tượng di dân hay sự tràn ngập của du khách, thế giới
người trẻ và các hiện tượng xã hội liên hệ khác. Thực vậy có rất
nhiều lãnh vực phải được soi sáng bởi ánh sáng của Phúc Âm, nhất
là những lãnh vực văn hóa mệnh danh là các hiện tượng tân thời như
truyền thông, tranh đấu dân sự cho hòa bình, phát triển và giải
phóng các dân tộc, bảo vệ sự sống; bảo vệ nhân quyền, nhất là
quyền của các sắc dân thiểu số, phụ nữ và trẻ em; các nghiên cứu
khoa học và bang giao quốc tế. (GDC 211)
Can thiệp vào các tình trạng cụ thể
Thể thức hội nhập văn hóa do giáo lý điều khiển
thường xuyên được kêu gọi để đối phó với nhiều tình trạng cụ thể.
Sau đây là một vài tình trạng thường xẩy ra. Trước hết, cần phân
biệt việc hội nhập văn hóa tại các quốc gia mới gia nhập Ki-tô
giáo, nơi việc tuyên xưng Phúc Âm cần được củng" cố, với các quốc gia có truyền thống
Ki-tô lâu đời cần được canh tân về Phúc Âm.
Cần chú ý đến các tình trạng dễ gây ra các sự
xung đột và căng thẳng vì các yếu tố như đa chủng, đa tôn giáo, khác
biệt về trình độ phát triển đôi khi hết sức đối chọi: lối sống
thành thị và ngoại ô; các hệ thống tư tưởng chính trong vài quốc gia
bị ảnh hưởng mạnh mẽ vì quá giáo dân hóa, hay ngược lại quá giáo
phẩm hóa. Cuối cùng, hội nhập văn hóa tìm kiếm sự tôn trọng giá
trị của các khuynh hướng văn hóa của một quốc gia đặc biệt, được
biểu tượng bởi các đẳng cấp xã hội và chức nghiệp, như phái nam và
phái nữ trong lãnh vực khoa học và văn hóa, thế giới của các nhân
công, giới trẻ, những kẻ sống ngoài lề xã hội, người ngoại quốc,
và người tàn phế. Nói cách chung, "việc đào tạo các giáo hữu
phải chú trọng đặc biệt đến nền văn hóa địa phương, vì đã đóng góp
cho chính việc đào tạo này. Ngoài ra việc đào tạo cũng sẽ giúp đỡ
cho việc phân định giá trị đã được ghép ráp theo truyền thống hay đã
được đề nghị trong những sinh hoạt đương thời. Cần chú ý đến các văn
hóa khác nhau có thể hiện hữu cùng một lúc trong một dân tộc, trong
cùng một dân tộc hay quốc gia. (GDC 212)
Trách vụ của giáo hội địa phương
Tầm quan trọng của vấn đề, cũng như giai đoạn
thiết yếu của việc nghiên cứu và thử nghiệm đòi hỏi những sáng
kiến được hướng dẫn bởi các vị lãnh tụ giáo hội sáng suốt." Chúng ta phải kể đến:
-
sự phổ biến rộng rãi
giáo lý để vượt qua được tình trạng kém hiểu biết hay hiểu biết sai
lạc, đây là trở ngại lớn nhất cho mọi nỗ lực hội nhập văn hóa:
điều này cho phép có sự đối thoại và tham dự trực tiếp cuả những
người có thể ấn định những phương thức hữu hiệu nhất cho việc truyền
bá Phúc Âm.
-
thực hiện những kế
hoạch tại những thí điểm về hội nhập văn hóa đức tin bên trong
chương trình thiết lập bởi Giáo Hội: Giáo lý cho người nhớn theo giáo
lý tân tòng (RCIA) đóng một vai trò có ảnh hưởng đặc biệt về phương
diện này.
-
nếu trong cùng một khu
vực của giáo hội có nhiều nhóm sắc dân nói các thổ ngữ khác nhau,
tốt hơn cả là nên dịch các sách hướng dẫn ra nhiều thứ tiếng, để
thúc đẩy bằng phương tiện của các trung tâm giáo lý, một dịch vụ
giaó lý thuần nhất cho mỗi nhóm.
-
thực hiện một đối
thoại về học hỏi hỗ tương và cảm thông giữa các Giáo Hội, và giữa
các Giáo Hội này và Tòa Thánh: điều này cho phép chứng nhận các
kinh nghiệm, tiêu chuẩn, chương trình, trợ huấn cụ và một sự hội
nhập văn hóa được cập nhật hóa hơn. (GDC 213-214)
Kinh Nghiệm Hội Nhập Văn Hóa về Giáo Lý
tại Á Châu
Công Giáo Trung Hoa Thời Khai Nguyên
Các thừa sai Gia Tô Hội (Dòng Tên) đặc biệt là
linh mục Lợi Mã Ðậu (Mathieu Ricci 1552-1610) đã đem giáo nghĩa của Thiên
Chúa Giáo cùng các nho học của Khổng Tử so sánh với nhau. Các thừa
sai sống hòa mình vào mọi giới, mặc y phục Trung Hoa, ăn uống như
người Tầu, nói tiếng Tầu, đọc và viết thông thạo chữ Hán. Tinh
thần Ki-tô giáo lọt vào quần chúng qua các bài thuyết trình, diễn
văn và sách vở của cha Lợi Mã Ðậu. Cha chủ trương kính trọng và bảo
vệ giá trị của văn hóa Trung Quốc: lòng hiếu thảo cha mẹ, phong tục
lễ bái, việc suy tôn Ðức Khổng Tử. Do đó nhiều người trong giới trí
thức quan lại, bác học, hoàng tộc, cũng như thường dân từ thôn quê
đến thành thị, cả ở Bắc Kinh cũng xin theo đạo. Niên hiệu Sùng Chính
(1644) vua Hy Tông do thiện cảm với Công Giáo đã tỏ ý muốn theo đạo.
Vào lúc đó Bắc Kinh đã có hai thánh đường được xây cất. Các thừa
sai mang họ Trung Hoa, dịch kinh sách từ La tinh hay Bồ Ðào Nha và Ý qua
Hán tự, tiêu biểu nhất là cuốn Thiên Chúa Giáo Thực Nghĩa của cha Lợi
Mã Ðậu.
Dưới triều Minh, Quảng Ðông là nơi xuất phát của
Tân Khổng Giáo. Tân Nho Giáo rất thịnh hành nhưng chính tại Quảng
Ðông và Phúc Kiến lúc bấy giờ lại là nơi đạo Chúa được tiếp nhận.
Các giáo sĩ tây phương được tự do truyền đạo. Tân Nho Giáo với các
danh nho Quảng Ðông lại rất gần gũi với Gia-tô giáo, không mâu
thuẫn trong đại quan tư tưởng về Trời, về đạo Nhân, về linh hồn và
thế giới thần linh. (Cao Thế Dung, Dân Chúa 6/00, t. 9)
Công Giáo và Ðạo Thờ Trời trong Nho Giáo
Các
nhà nho Trung Hoa cho rằng Thiên Chúa trong Gia-tô giáo cùng với Ðế,
Thượng Ðế, Hoàng Thiên, Thượng Thiên Hoàng, Hoàng Thượng Ðế chỉ là
những tên gọi khác nhau, nhưng không trái với Deus (Dieu hay God).
Trong Cựu Uớc Chúa mượn hình người xuống gặp gỡ
các tổ phụ như Áp-bra-ham hay Môi-sen. Trong Tứ Thư Ngũ Kinh cũng có
ghi những lần Thượng Ðế phán bảo cùng các vị vua: trong Kinh Thư có
ghi vua Cao Tông được Thượng Ðế chỉ cho tìm được hiền thần là Phó
Duyệt. Văn Vương cũng được Thượng Ðế phán bảo trong Kinh Thi.
Kinh Thi cũng ca tụng
trời là đấng muôn trùng cao cả:
"Kìa Thượng Ðế muôn trùng cao cả,
Oai nghi nhìn thiên hạ chúng dân."
"Sinh dân Trời chẳng bỏ liều,
Liệu người cai quản đến điều mới
thôi"
Thượng Ðế cũng chí
công vô tư:
"Trời xanh dẫn dắt chúng dân....
Bên cho bên lấy, đề huề xiết bao..."
Khổng Tử đề cập đến
Thượng Ðế nhiều lần trong Kinh Thi :"phối Thiên, khắc phối Thượng Ðế" có nghĩa là sống
đời thánh thiện, hiền nhân, quân tử thánh nhân được giao cảm, phối
kết với Thượng Ðế.
(Cao Thế Dung, Dân Chúa,
6/00, t. 11)
Ðạo Tôn Kính Tổ Tiên Tại Việt Nam
Ngay
từ những thế kỷ đầu của việc hội nhập văn hóa trong công cuộc rao
giảng Phúc Âm, giáo hội Việt Nam đã phải đương đâu với một vấn đề
hết sức nan giải là việc thờ phụng tổ tiên. Vì căn cứ vào 10 Ðiều
Răn (Thứ nhất: thờ phượng một Ðức
Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự). Các vị thừa sai
đã không chấp nhận từ ngữ phụng thờ vì ông bà cha mẹ chỉ là các
tạo vật do Chúa dựng nên. Mới đây Ðức Tổng GM Nguyễn Như Thể , Giáo
Phận Huế, trong bài phát biểu cảm tưởng tại Thượng Hội Ðồng Giám
Mục Á Châu tổ chức tại Rôma năm 1998 đã phải thay chữ "phụng thờ" bằng chữ
"tôn kính". ÐTGM cũng
nhấn mạnh là việc tôn kính tổ tiên là yếu tố văn hóa và luân lý
của Việt Nam. Các vị thừa sai đầu tiên dến Việt Nam đã dễ dàng nhận
thấy việc tôn kính tổ tiên là tôn giáo chính của Việt Nam. Họ cũng
thấy Ðạo thờ Ông Bà là yếu tố thiết yếu nhất của việc phụng thờ
các thần linh. (Nguyễn Quang Tuyến, Dân Chúa 6/00, t. 4)
Các
tôn giáo khác như" Khổng Giáo,
Phật Giáo và Lão Giáo cả ba đều đến từ Trung Quốc hay nước ngoài
và cũng phải thu nhận các yếu tố thiết yếu từ các tư tưởng bình
dân để được dân chúng chấp nhận. Những cuộc tranh luận lịch sử về
các nghi lễ phụng thờ tổ tiên trong các xứ truyền giáo từ thế kỷ
17 trở đi đã khiến cho các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á, Trung Hoa
và Việt Nam đã phải chịu nhiều đau thương về những hiểu lầm trên bình
diện lịch sử và phong tục. Nhiều văn kiện đã được công bố chống
lại những nghi lễ phụng thờ tổ tiên theo đường lối thực hành của
Công Giáo.
Tại
Trung Hoa phải chờ đến ngày 8-12-1939 mới có Huấn Thị rút lại lệnh
cấm. Tại Việt Nam cũng phải đợi đến năm 1964 Hội Ðồng Giám Mục
Việt Nam mới cho phép tín hữu vài hình thức phụng thờ dành riêng cho
ông bà tổ tiên đồng thời hủy bỏ những điều được coi là dị đoan.
Ðạo
Hiếu và Ðạo Trời tại Việt Nam là điểm son của nền văn hóa Việt Nam
và không phản lại những giáo huấn của đạo Công Giáo. Các giáo lý
viên khi giảng dạy cho người Việt Nam cần chú ý đến việc hội nhập
văn hóa về đức tin Công Giáo trên phương diện những truyền thống cao
đẹp này của văn hóa chúng ta. Cần phải khéo léo giải thích những gì
là tốt đẹp có thể chấp nhận, và những gì là dị đoan cần phải
tránh. (Nguyễn Quang Tuyến, Dân Chúa, 6/00, t. 6)
Tài" Liệu Tham Khảo
1.
A Concise Dictionary of Theology, Gerald
O'Collins, S.J. & Edward G. Farrugia, S.J., Paulist Press, New York, 1991
2.
Cao Thế Dung, "Công Giáo Trung Quốc và
Ðạo Thờ Trời trong Tứ Thư Ngũ Kinh" Dân Chúa, tháng 6, 2000, t. 8-12)
3.
Electronic Dictionary: http://www.worldenglishdictionary.com/
4.
General Directory for Cathechesis, Congregation
for the Clergy, USCC, 1999.
5.
Nguyễn Quang Tuyến, "Ðạo Thờ Kính Tổ Tiên",
Dân Chúa, tháng 6, 2000.
6. Phan Ðình Cho, "Faith in Cultures: Inculturation and Cathechesis" unpublished article, 1999.