Tuổi Thơ Trên Quê Hương
Các em thiếu nhi sanh ra và lớn lên trên miền đất mới không biết gì về đời sống ở các đô thị và làng mạc của quê hương Việt Nam. Tuổi thơ của các vị cao niên như cỡ tuổi của tôi có rất nhiều kỷ niệm của cuộc sống gần gũi với thiên nhiên. Tôi viết bài này để chia sẻ với các em những kỷ niệm thời ấu thơ của tôi tại miền Bắc Việt Nam.
Tôi sanh trưởng tại thành phố Nam Ðịnh, một thị trấn nằm ở phía nam thủ đô Hà Nội chừng một trăm cây số. Nam Ðịnh nằm trên bờ sông là chi nhánh của sông Thái Bình, có bến đò Tân Ðệ. Thành phố này rất nhỏ, trong vòng một tiếng đồng hồ người ta có thể đi từ đầu này đến đấu kia. Như các thành phố khác ở ngoài Bắc, đa số các đường phố đều có tên là Hàng..., chẳng hạn Hàng Tiện, Hàng Ðồng, Hàng Thùng, Hàng Nón, Hàng Thiếc. Hàng Ðồng bán đồ đồng, Hàng Thiếc bán đồ thiếc, Hàng Thùng bán thùng sắt... Tuy nhiên cũng có những con đường mang tên khác như Phố Khách Trên, Phố Khách Dưới dịch ra tiếng Anh sẽ lá China Upper Street và China Lower Street. Nhà tôi ở Phố Khách Dưới số nhà 224 và nằm ngay ngã tư của Phố Hàng Thùng. Con đường Phố Khách Dưới còn có tên Tây là Rue Marechal Foch. Dưới thời thuộc địa Pháp, người Pháp đã đặt tên lại cho đa số các con đường lớn.
Tôi là con thứ tám (người Nam gọi là thứ Chín) của một gia đình bốn trai, sáu gái. Cha mẹ tôi buôn bán xuất nhập cảng đồ xứ cổ và các hàng hóa của Pháp. Thầy tôi (người Bắc xưa gọi cha là Thầy và mẹ là Ðẻ) rất cần cù chịu khó, người làm việc rất khó khăn vất vả để nuôi 12 miệng ăn mà còn tậu sắm được bốn căn nhà để dành làm của hương hỏa cho bốn người con trai. Còn sáu cô con gái thì mỗi người được dành sẵn một hộp nữ trang làm của hồi môn khi về nhà chồng. Của hương hỏa do tổ tiên để lại cho thầy tôi là những mẫu ruộng thuốc lào Tiên Lãng ở Kiến An. Nhưng thầy tôi cho người cấy rẽ và hàng năm về thâu tiền. Làng Nhân Trai, Tổng Cổ Trai, Phủ Kiến Thụy, Tỉnh Kiến An mới thực là quê tôi. Ông tổ mấy mươi đời của nhà tôi là Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Ðĩnh Chi, và dĩ nhiên sau đó là con cháu nhà Mạc, với Mạc Ðăng Dung là cháu bẩy đời của Mạc Ðĩnh Chi. Tôi vốn dòng dõi nhà Mạc, nhưng phải đổi thành họ Bùi để tránh việc sát hại của Chúa Trịnh và vua Lê thời Trịnh Sâm. Vụa Mạc Phúc Nguyên là vua đời thứ tư của nhà Mạc đã lấy bà Hoàng Hậu tên Bùi Thị, và do đó con cháu nhà Mạc đã lấy họ ngoại để được sống sót. Một nhánh chạy về Nam Ðịnh lập nghiệp, một nhánh chạy về Thanh Hóa. Chính bác tôi đã bắt được liên lạc với nhánh họ Bùi chạy về Thanh Hóa khi ông đi chu du về miền Trung.
Là con trai út, tôi không được cưng chiều, mặc dầu tôi học khá. Mới bốn tuổi, thầy tôi đã bắt ra gầm cầu thang ngồi học 28 vần mẫu tự. Cứ đọc sai một chữ là bị củng muốn lõm cà đầu. Chẳng mấy ngày sau tôi đã thuộc lòng các vần mẫu tự và có thể đọc cả ngược lẫn xuôi. Sau đó là chín bảng cửu chương tôi cũng phải học thuộc lầu lầu. Năm lên năm tuổi tôi đã đi học lớp một. Vì tôi quá nhỏ và phá quá nên khi lên lớp ba tôi phải đúp lại một năm. Ngày xưa học hết lớp ba là phải thi lấy cái bắng Sơ Học Yếu Lược. Bằng này to cỡ bằng cấp của các Ðại Học Mỹ bây giờ. Tôi còn nhớ đó là một tấm giấy lớn có hai con rồng đỏ chạy hai bên.
Khi tôi lên bẩy tuổi, thầy tôi mướn một thầy đồ về nhà để dạy chữ Nho cho tất cả mấy anh chị em tôi. Ông thầy đồ này khi xưa cũng là thầy dạy chữ Hán cho thầy tôi, nên thầy tôi rất kính sợ ông giáo đó. Ông này đã già những rất dữ dằn và khó tính. Mỗi lần không sẵn sàng bút nghiên mực và giấy bản là bị ăn đòn. Ông đánh tôi bằng thước gỗ trên những đốt ngón tay. Tôi rất gan nên không bao giờ kêu khóc, mặc dầu tôi nhỏ tuổi nhất. Tính tôi rất lì. Một hôm, khi tôi mới tám tuổi, tôi muốn tự làm một bộ "puzzles" bằng gỗ, bèn dùng dao phay đặt miếng gỗ lên trên tấm thớt và dơ thẳng tay chặt xuống đánh phụp. Không may là không chặt trúng gỗ mà lại chém vào đầu ngón tay chỏ bên trái, làm cho đốt ngón tay ngay phía dưới cái móng bị chặt gằn lìa ra. Nếu tôi mạnh tay hơn, thì đã chặt đứt luôn cái ngón đó rồi. Ðốt ngón đầu rớt ra còn dính lủng lẳng trên tay, máu phun có vòi lên đỉnh đầu tôi. Nhờ nghe bà ngoại tôi nói về công hiệu của thuốc lào trên các vết thương, tôi vội ráp đốt ngón tay lại, lấy thuốc lào của thầy tôi dịt và lấy cái khăn tay trắng cuốn xung quanh, rồu dùng ngón tay cái đè chặt cho máu ngừng chảy. Tôi không dám nói cho ai ở nhà biết sợ bị thầy tôi đánh đòn. Tôi đã giữ bàn tay trái dấu dưới gầm bàn như thế trong các bữa ăn và đêm ngủ cũng cố giữ nguyên như vậy mặc dầu vết thương đau nhức, và máu chạy dựt dựt theo nhịp tim. Các cụ nói con nít gẫy tay gẫy chân chóng lành, tôi thấy thật đúng, chỉ một tuần sau là ngoài da đã ăn liền, nhưng dấu vành trên ngón tay thì bị trật đi vì ngón tay lúc ráp lại đã không hoàn toàn đúng chỗ.
Bốn căn nhà của thầy tôi mua cho các con trai, một căn ở Phố Khách Dưới, một căn ở Phố Vải Màn, và hai căn cạnh nhau ở Phố Chợ Rồng. Phố Vải Màn là nơi hàng năm cứ đến rằm tháng tám là đông vui nhộn nhịp như hội. Tất cả các cửa tiệm ở phố này đều bày bán các đồ chơi cho con trẻ ngay trên vỉa hè. Những đèn ngôi sao năm cánh, các đèn lồng, đèn con cá, đèn máy bay, đèn xe tăng, đèn con bướm, đèn xếp, đèn kéo quân đầy nhan nhản. Những đồ chơi bằng thiếc, cắt từ các ông bơ sữa rồi đem sơn máu sâc sặc sỡ, như con thỏ đánh trống, con bướm đập cánh, các tầu "bành bạch". Tầu bành bạch là cái tầu sắt chạy bằng hơi nước, đốt bằng đèn dầu có bấc. Hơi nước xịt ra phía sau làm cho tầu chạy, và một hộp sát làm như một cái màng co dãn mỗi khi nước bốc hơi và xịt ra bên ngoài gây nên tiếng nổ bành bạch. Ðây có lẽ là món đồ chơi mà tôi mê say nhất. Rồi các đầu lân mà ngoài bắc gọi là đầu sư tử. Các tượng làm bằng giấy, với bức tượng đặc biệt nhất là tượng ông Tiến Sĩ Giấy. Có lẽ các cụ ngày xưa muốn mua cho con để bày trong nhà bức tượng này với hy vọng cho con thấy nếu học giỏi sẽ có ngày được vinh quy bái tổ và được vua cấp cho phẩm phục triều đình oai vệ như ông tiến sĩ giấy đó. Ngoài ra còn có các con giống làm bằng bột tô màu thật đẹp và thật giống các con thứ thiệt.
Các anh lơn của tôi thì chuẩn bị ăn Tết Trung Thu thật to, họ làm những cái tháp bằng mía đã lột vỏ và chặt ra thành từng khúc từ to đến nhỏ. Những con chó được làm bằng khung tre và nhồi bằng tép bưởi trông y hệt những con chó bông xù. Cạnh những đĩa bánh nướng bánh dẻo còn có đĩa bánh mặt trăng. Bánh mặt trăng rất to, to bằng nguyên cái đĩa và màu trắng giống như bánh khảo, mặt trên có in hình con rồng. Ông anh cả của tôi lại khéo tay nên vẽ các hình Bạch Tuyết và bẩy Chú Lùn phóng đại từ các hình của Walt Disney, rồi tô mầu và cắt rồi dán trên bìa carton để trưng bày chung quanh các mâm thức ăn. Tôi và ông anh hơn một tuổi được mua cho một đầu lân để múa. Chúng tôi thay phiên nhau, đứa làm đầu đứa làm đuôi, còn em gái tôi thì đánh trống. Thầy tôi cũng treo giải bằng tiền buộc trên đầu một ngọn cây tre treo trên đầu cầu thang. Chúng tôi múa lân cũng bò rạp, cũng vái, cũng nhẩy lên hụp xuống, và chạy vòng vòng trước khi nhẩy lên đớp phần thưởng. Múa lân xong là đến mục thắp đèn trung thu để đi rước ngoài phố chung với các trẻ em trong xóm. Sau khi trở về nhà mới được ngả các món ăn và bánh trái ra ăn. Tết Trung Thu ngày xưa thật là vui. Tuổi trẻ ngày nay không được hưởng cái không khí vui nhộn của ngày Tết Nhi Ðồng ấy. Tại Giáo Xứ Các Thánh Tử Ðạo, hàng năm các em Thiếu Nhi Thánh Thể đã cố gắng tổ chức Tết Trung Thu cho các nhi đồng, đây cũng là một cách để duy trì truyền thống của quê hương chúng ta.
Năm tôi lên bẩy tuổi, tôi xuýt chết đuối trong hồ cá của thầy tôi. Ở căn nhà lớn nhất gần chợ Rồng, thầy tôi làm vườn cảnh. Nơi đây là chỗ thầy tôi hưởng thú tiên cảnh nơi hạ giới. Thầy tôi trồng rất nhiều loài lan quý, ngoài một cây ngọc lan cao bằng cái nhà hai tầng. Khi hoa nở cả cái vườn thơm ngát với mùi hoa nhài, hoa hồng, hoa thiên lý, hoa mơ, hoa ngọc lan và các hoa khác. Mùi thơm của muôn loài hoa làm cho tôi ngất ngây. Thầy tôi cũng trồng các loại cây cảnh, có một cây ổi tầu rất thấp nhưng cành rất dai, và trái ổi khi xanh ăn cũng ngon mà khi chín thì con ngon hơn nữa. Tôi rất thích đánh đu trên cây ổi này vì cành ổi dẻo đến nổi tôi còn có thể nhún nhảy và đu như Tarzan từ cành này sang cành khác mà không gẫy. Lá ổi tầu còn được dùng để trị bệnh tiêu chẩy. Ở giữa sân là một bể cá vàng với hòn núi non bộ. Trên núi có những tượng bằng sứ nhỏ xíu hình ông lã vọng ngồi câu cá, hình hai cụ già ngồi đánh cờ tướng, hình các cô tiên đứng bên cầu... Những con cá vàng lớn gằn bằng bàn tay bơi lượn trong những hốc đá. Chúng làm cho tôi bị ám ảnh đến nỗi một ngày kia tôi khom lưng trên thành bể và cúi đầu xuống thọc tay váo bể bắt cá. Cá thì không bắt được nhưng tôi đã lộn nhào vào trong bể sâu và đầu tôi bị mắc kẹt trong kẽ đá, hai chân tôi chổng lên giời. Tôi uống no nước dơ trong bể cá và đã bất tỉnh khi anh Dính là người làm vườn của thầy tôi may mắn đi ngang nhìn thấy và đã kéo chân tôi lên. Anh đâu có biết gì về phương pháp cứu người chết đuối và hô hấp nhân tạo CPR. Anh đã vác tôi lên vai anh, chạy vòng vòng quanh sân, với hai chân trên vai và đầu tôi thòng lòng phía sau lưng anh. May mà tôi đang bụng đói nên không có thức ăn chạy ngược lên cổ làm tắc thở. Nhờ vậy mà nước đã chẩy ra hết và tôi đã tỉnh lại. Anh Dính đã cứu sống tôi.
Anh là người hùng của tôi, vì anh còn biết võ Thiếu Lâm. Anh có thể lộn đầu đi bằng hai tay cả cây số, tôi đi bên cạnh anh mà cảm thấy hãnh diện vì sức mạnh của đôi cánh tay anh. Thành phố Nam Ðịnh khi xưa không có ống nước dẫn vào tận nhà. Tất cả mọi người đều phải đi gánh nước tại phông-ten ở cách nhà tôi hai dẫy phố. Vì biết anh có võ và có sức mạnh, mọi người đã bầu anh là chúa tể của phông ten. Anh có quyền sắp xếp thứ tự lấy nước, và anh bắt mọi người phải để thùng theo thứ tự trước sau. Mỗi khi anh được sai đi chợ anh đều cho tôi đi theo và cho tôi đứng trên vai anh. Ðược công kênh trên vai anh tôi có cảm tưởng như mình là một superman tí hon. Hồi nhỏ các học sinh cùng lớp tôi thường chia nhau thành các bang của mỗi khu phố. Chúng tôi đánh nhau bằng gậy và đá, rượt đuổi nhau chạy ngoài đường. Chúng tôi dùng pháo xiết gói chung với những viên đá, cột giây lại rồi đứng trên mái nhà ném xuống đường cho nổ tung như lựu đạn. Chúng tôi cũng làm các lựu đạn bằng các bóng đèn đã hư, nhét vôi lỏng vào và dùng xi bịt dưới bóng đèn lại. Khi ném bóng đèn bể và phát tiếng nổ khá to, các mảnh thủy tinh bay tứ tung rất là nguy hiểm. Các vũ khí giản dị hơn mà chúng tôi chế tạo là súng gỗ bắn giây thun; pháo chìa khóa (pháo được chế tạo bằng diêm sinh, hay những mảnh vụn cạo ở đầu các que diêm, nhét vào ống trong của chìa khóa, dưới đáy có để một miếng giấy xé từ hộp diêm (quẹt). Một sợi cao xu cột vào một cái đinh cắm vào trong ống chìa khóa được dùng làm cái cò súng. Trên cái khoen của chìa khóa chúng tôi buộc những cái tua làm bằng len để cho chìa khóa rơi như một cái dù.) Khi ném chìa khóa lên cao nó bay như một trái lựu đạn và nổ khi rớt xuống và cái đinh chạm mặt đất. Chúng tôi còn lấy lông ngỗng cắt và dùng đũa để làm súng bắn đạn làm bằng vỏ trái dưa hấu. Súng này bắn không xa và không đau. Lớn hơn là súng làm bằng ống tre bắn đạn bằng trái soan ta. Và cũng một kiểu súng này đã được chế thành súng bắn nước.
Tuổi trẻ ngày xưa đâu có những đồ chơi tân tiến, chạy pin và có máy móc tự động như bây giờ. Tất cả những đồ chơi của chúng tôi đã được chúng tôi tự chế biến. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn còn chơi những trò khác như đánh khăng, đành đáo, đá cầu, chơi con cù, đá dế, và bắn bi. Chúng tôi cũng để cho trí tưởng tượng làm việc khi đọc các chuyện lịch sử và huyền thoại đời xưa. Câu chuyện mà tôi mê thích nhất là Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Tráng Sĩ Tiêu Sơn là một thứ Superman của Việt Nam. Ông diệt bạo trừ gian, cắt tai các bạo chúa, lấy tiền của họ đem cho người nghèo. Tôi thích leo lên mái nhà nằm về ban đêm, nhìn sao trời mà mơ chuyện nhẩy qua vách tường đột nhập vào các cung điện để hành thích. Tôi mê loại chuyện này đến nỗi tự xưng cho mình danh hiệu Hùng Sơn, tức Gấu Núi, một biệt hiệu anh hùng kiểu Zoro.
Tôi cũng biết thương người nghèo nhờ học được ở thầy mẹ tôi, vì thầy mẹ tôi có để riêng một cái hộp đựng tiền lẻ để cho người hành khất. Hàng ngày họ lũ lượt kéo vào nhà tôi để xin tiền. Dù họ đến đều mỗi ngày, không bao giờ thầy mẹ tôi đuổi họ đi mà không cho tiền. Có một lần tôi nẩy ra ý nghĩ là nếu mỗi ngày tôi chỉ cần bốc một nắm tiền từ cái hộp cho hành khất ấy rồi bỏ vào một cái hộp lớn của tôi, thì sau một tháng tôi sẽ có một số tiền khá lớn. Tôi làm việc này mà không xin phép thầy mẹ tôi và cũng không cho ai hay biết. Một buổi chiều, tôi đã đi lang thang khắp phố phường Nam Ðịnh để tìm một người hành khất nào trông ốm yếu và khổ sở nhất để cho họ số tiền này. Tôi đã tìm được một người mù, ngồi ở góc phố Cửa Ðông, cạnh cột đèn. Ông ta ngồi sắp chân bằng tròn, với cái nón rách ôm trong lòng. Ông thều thào: "Ông đi qua, bà đi lại, xin cho con chút cơm, chút cháo!" Tôi đã rón rén lại gần, và từ phía sau lưng ông tôi cúi xuống đổ tất cả số tiền lớn tích trữ trong một tháng vào trong cái nón của ông, rồi lại rón rén bước lui vào một góc tường nhà kế bên để quan sát. Nghe tiếng xu hào rớt xuống nón như mưa, ông không biết mình mê hay tỉnh" Quờ quạng trong nón, bàn tay ông chạm vào những đồng tiền lạnh. Ông lượm một đồng đưa lên miệng cắn, và ông đã la lên: "Trời mưa tiền xuống cho tôi!" Ông đứng lên ôm cái nón nặng chĩu những đồng xu hào và nhẩy cỡn lên. Ông kêu tên thằng cháu bé vừa lúc đó mới đi đâu trở lại: "Nam oi! ông cháu mình đỡ khổ rồi!". Rồi hai ông cháu lượm tiền bỏ vào túi vải đeo lên vai và họ dìu nhau đi. Tôi cảm thấy thật sung sướng vì được đóng vai ông trời. Nhìn dáng điệu hớn hở và điên cuồng của họ tôi thấy lòng mình vui lạ. Tôi ra về giữ kín trong lòng một ấn tượng đẹp của một hành vi bác ái ẩn danh.
Các anh tôi đều biết đanh đàn banjo và mandoline, dĩ nhiên là tôi cũng học lóm và cũng đánh được hai nhạc cụ này. Năm lên tám tuổi người anh lớn của tôi di học Canh Nông ở Tuyên Quang về cho tôi cái ống sáo bằng tre do chính tay anh làm lấy. Tôi đã học thổi bài "Frère Jacques! Dormez vous!" suốt một ngày cho đến khi thổi được, và tôi đã bị nhức đầu và mang bệnh ngày hôm sau. Tôi cũng thích hát, và tối nào cũng vậy sau khi ăn cơm chiều tôi tụ tập khoảng 15 đứa nhỏ trong khu phố cỡ tuổi tôi và nhỏ hơn, cho chúng ngồi trên những cái ghế gỗ đặt trước cửa nhà, để dạy chúng hát những bài ca Hướng Ðạo và Nhi Ðồng.
Lúc tôi lên mười có một anh chàng 16 tuổi đi ngang thấy nhóm chúng tôi vui nhộn đã rủ chúng tôi theo anh thành lập một nhóm du kích tí hon chống Pháp. Anh lấy được của ba anh khẩu súng lục revolver đã mười năm chứa được bắn. Tôi cũng không rõ anh có biết bắn không. Một hôm anh bảo chúng tôi chuẩn bị gạch đá, và gậy gộc để đi đánh Pháp. Ở tuổi thơ ngây lên 10 chúng tôi đâu có ý thức được tầm quan trọng của việc mình làm. Chúng tôi hăm hở theo anh chạy tới ngã tư Cửa Ðông. Anh bảo chúng tôi tìm mấy đống gạch trước cửa một căn nhà đổ nát để nấp và chờ đợi xe tuần cảnh của Pháp đến thì lấy gạch ném. Khi chiếc xe GMC vừa ló đầu ở ngã tư, anh nhẩy từ chỗ nấp ra và đứng ngay giữa đường, chĩa súng nhắm người tài xế và bóp cò. Anh bóp cò ba lần mà súng không nổ, mấy người lính Lê Dương trên xe đã lia súng liên thanh bắn anh ngã gục. Tôi và các bạn sợ quá nằm yên sau đống gạch và chờ đến khi chiếc xe tuần cảnh mất hút trong màn đêm trước khi chạy ra ngó xác người bạn nằm bất động trên vũng máu. Tôi chạy về nhà người bạn này để báo tin cho mẹ anh ta. Hai ngày sau, đi sau chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ, tôi đã cảm thấy cuộc đời vô nghĩa, và cái chết của anh thật là vô lý, và tôi thấy mình như lớn lên được mươi tuổi.
Tôi trưởng thành trong khói lửa của quê hương, hết Nhật tới, rồi Tầu qua tước vũ khí Nhật, Việt Minh nổi giậy, rồi Pháp trở lại. Tôi đã chứng kiến những vụ tướng Nhật rút kiếm chém đầu một ông quan người Pháp. Tôi đã thấy cả trăm người chết trên vỉa hè Nam Ðịnh vào nạn đói năm 1945. Mỗi buổi sáng tháng 3 năm ấy, khi mở cửa nhà tôi đã thấy năm sáu xác chết trần truồng ngồi tựa lưng vào vách tường. Năm ấy cả hai triệu người chết vì Nhật đã buộc nông dân trồng đay thay vì lúa. Và những chuyến tầu chở gạo tiếp tế từ Nam ra Bắc đã bị máy bay và tầu ngầm Mỹ bắn chìm. Tôi đã thấy những người đói ăn mấy tuần thấy hàng bánh chưng là nhào vào ôm chiếc bánh ăn cả lá, trong khi người bán hàng dùng đòn gánh đập cho họ bể đầu nằm chết gục ngay trên mẹt bánh. Một người đói đã dựt từ miệng tôi cái bánh tôi đang ăn dở dang, chạy ra xa chừng ba bước, rồi đứng lại nhét cả cái bánh vào mồm, rồi té ra chết trước sự ngỡ ngàng của tôi. Tháng ba năm ấy, thầy tôi bắt cả nhà ăn bớt đi mỗi người một bát cơm rồi nắm lại để đem cho người nghèo. Gia đình tôi 12 người, nên có 12 nắm cơm đóng góp mỗi bữa cho Ủy Ban Phát Chẩn trong khu phố. Gia đình tôi chưa đến nỗi phải pha gạo với ngô và sắn như các gia đình khác. Tôi còn nhỏ nhưng đã ý thức được những đau khổ và chết chóc do chiến tranh gây nên. Tôi đã thấy những anh lính Tầu chừng 16, 17 tuổi lê bước chân phù vượt cả ngàn cây số từ Vân Nam qua để vơ vét tài sản của ta khi Nhật đầu hàng. Tôi đã khoái chí cười khi thấy anh lính Tầu cưỡi ngựa chạy nhanh trên phố và té văng xuống ống cống ở ngã tư, mấy trái lựu đạn chai lăn long lóc trên đường.
Ðêm đêm tiếng súng "đum dum" nổ rền trên thành phố. Những viên đạn chiếu sáng kẻ vạch vàng đỏ trên nền trời. Chúng tôi dán giấy trên các cửa kính để bom nổ khỏi bể, làm màn cửa và các chụp đèn để phòng không. Trường tiểu học của tôi tên là Jules Ferry được xây trên tường thành cổ xưa kế bên ruộng lúa. Mỗi lần máy bay Mỹ tới là có còi báo động và học sinh bỏ lớp chạy ra ruộng lúa trốn. Tôi thích nằm giữa những khóm lúa đã chín, những ngọn đòng đòng được tôi kéo cho chụm lại phía trên để che cho máy bay không thấy tôi. Tôi nằm đó nhấm nháp các hạt đòng đòng và không muốn trở vào lớp. Có một lần, sau khi còi hụ báo hiệu máy bay đã đi xa, tôi chưa chịu trở về lớp học, chạy ra cái chòi của người gác ruộng lúa. Tôi đã được ăn bát cơm tấm lần đầu tiên trong đời, cơm tấm gạo mới thật ngon, một bát cơm nhớ đời. Mùa lúa chín vàng, gió thổi làm cho những ngọn đòng đòng dào dạt như những đợt sóng chạy trên những thửa ruộng lớn mênh mông thẳng cánh cò bay. Tôi mê say chạy đuổi theo những bóng mây do mặt trời chiếu trên đường làng. Dĩ nhiên là gió làm mây chạy nhanh hơn làm tôi đuổi hụt hơi. Tôi đã nhiều lần leo lên mình con trâu cột bên gốc đa để ngồi vắt vẻo thổi sáo cho tiếng sáo của tôi bay vút lên tận trời xanh. Trong cái đe dọa của chiến tranh và chết chóc, tôi đã tìm thấy được những giây phút an bình vô tư trong thiên nhiên, giữa những mái tranh hiền.
19 tháng 8, 1945 Việt Minh khởi nghĩa. 19 tháng 12, 1946 Pháp tiến chiếm các thành phố. Ngày hôm đó tôi đã đứng nhìn nhà tôi, nơi chôn nhau cắt rốn bị du kích chất rơm đốt để thực hiện chính sách "vườn không nhà trống". Tôi đa đau lòng đứng nhìn căn nhà nơi chôn bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu trong 12 năm, từ từ đổ xụp. Rồi sau đó khói lửa chiến tranh lan tràn từ làng này sang làng khác. Năm năm trời chạy loạn đưa tôi từ Trà Bắc tới Hành Thiện, Phú Nhai, Nam Ðịnh rồi Trình Phố thuộc tỉnh Thái Bình. Tôi không thể kể hết mọi chi tiết về những giai thoại của những ngày chạy loạn từ Nam Ðịnh sang Thái Bình vì khuôn khổ của bài báo.
Dù phải chứng kiến sự chết chóc của hàng trăm người vì đói và vì bị máy bay oanh tạc, tôi vẫn còn cảm thấy gần gũi hơn với những kỷ niệm êm đẹp của những ngày bơi lội cả buổi sáng chung quanh hồ Khoái Ðồng, Nam Ðịnh (còn có tên là Hồ La-Két từ tiếng Pháp raquette, vì có hình thù giống cái vợt đánh tennis); những buổi lội ngược giòng sông Thái Bình bị nước cuốn giật lùi; những lần nhẩy tử trên chòi vó xuống sông, hay những lần mò tôm trong các hộc cây, mò con hào dưới đáy sông, bắt cua trên bờ ruộng, hớt tôm bằng vó nhỏ, câu cá rọi và bắn chim bằng ná cao xu. Các con và cháu tôi được sống đầy đủ, đồ chơi đầy rẫy không thiếu thứ gì. Chúng không phải tự tạo ra những trò chơi, và không sống gần thiên nhiên để tìm ngay trong thiên nhiên những vật liệu dùng làm đồ chơi. Những năm trời chạy loạn phải rời xa thành phố đã dạy tôi rất nhiều về đời sống của người dân quê. Tôi đã trồng rau cải, tưới bằng nước tiểu pha nước mưa để mang ra chợ bán. Rau của tôi cao bằng đầu gối và thật xanh tươi. Những mớ tôm tép hay cá mà tôi câu hay vớt được đủ cho gia đình ăn một bữa ngon lành.
Nếu không bị kẹt ở bến đò Nhật Tảo thì gia đình tôi đã sang được Hà Nam để xuôi xuống Thanh Hóa. Khi trở về Nam Ðịnh tôi mới biết ba trong bốn căn nhà của thầy tôi đã bị đốt cháy. Chúng tôi chỉ còn căn phố ở số 169 đường Vải Màn là còn đứng vững để làm nơi trú ngụ.
Tôi yêu quê hương tôi, quê hương khốn khổ, bất hạnh, kém may mắn vì suốt trong lịch sử mấy ngàn năm không mấy khi được an bình. Tôi tự hỏi không biết có phải khi xưa tổ tiên chúng ta đã làm việc thất đức khi tiêu diệt và đồng hóa dân tộc Chiêm Thành nên chúng ta mới phải chịu cơ cực như vậy không" Lịch sử Nam Tiến xẩy ra đồng thời và sau những cuộc xâm lăng của Trung Quốc. Ngoài những vụ tấn công của Tầu, Nhật và Pháp, chúng ta còn phải qua bao nhiêu thời kỳ Nam Bắc phân tranh kể cả cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Cộng Sản và Quốc Gia.
Những lần trở về miền Nam sau những chuyến công du hay du học, từ trên máy bay nhìn xuống những ruộng lúa xanh rì đầy nước lóng lánh dưới ánh mặt trời, lòng tôi lại quặn lại vì xúc động. Những lần hải hành ngoài biển thấy những hòn đảo Hoàng Sa, Tây Sa, Cù Lao Chàm, Cù Lao Thu, Cù Lao Ré, Cù Lao Xanh, Hòn Khoai, Hòn Nam Du, Hòn Tre, Hòn Thơm, Hòn Ðá Bạc, Hòn Thổ Châu, v..v.. hay những rặng núi miền Trung với Ðèo Hải Vân, Ðèo Rù Rì, Hòn Vọng Phu...hay những mũi biển như Mũi Varella, Mũi Padaran, Mũi Kê Gà, Mũi Cà Mâu v..v.., tôi không thể không cảm thấy lòng yêu nước dâng lên dào dạt trong tôi. Ðó là đất nước tôi, quê hương hoa gấm, dù bị bao đời chiến tranh tàn phá vẫn không hề thay đổi. Núi đồi, sông ngòi, bãi cát vàng và biển xanh sẽ không bao giờ biến đi. Những ruộng lúa, rặng mía, rừng cao xu, những trái dừa, mãng cầu, chôm chôm, soài, sầu riêng, măng cụt sẽ còn mãi mãi để nuôi sống người dân Việt Nam và là những hương vị bất diệt của quê hương.
Con cháu tôi chưa được thấy những địa danh thắng cảnh mà tôi đã thấy. Nếu có được trở về thăm quê hương, chúng sẽ chỉ như những người du lịch được thấy những địa điểm này lần đầu tiên. Chỉ khi nào được đến những nơi mình đã đặt chân tới, đã có những kỷ niệm đáng ghi nhớ về nơi đó thì cuộc viếng thăm mới làm sống lại một thời vàng son xa xưa.
Các bạn thiếu nhi thân mến, nếu có dịp các bạn có về thăm quê cha đất tổ không" Các bạn có muốn biết một chút về lịch sử, địa dư, và nơi cha mẹ ông bà các bạn đã sanh ra và lớn lên không" Các bạn có muốn dùng một mùa hè để thực tập tiếng Việt cho trôi chảy không" Các bạn có muốn dùng thời gian này để làm một cái gì cho những đồng bào đang nghèo khó, thiếu thốn và bệnh tật không" Bài viết này có gợi cho các bạn một ý thức gì tốt đẹp về quê hương Việt Nam không" Quê hương của chúng ta đẹp lắm, và người dân quê rất hiền hòa. Chúng ta phải hãnh diện là được mang giòng máu Việt trong huyết quản. Xin đừng quên tiếng Việt và đừng quên mình là người Việt Nam.
Mai Thư