Chặng XV
Chúa Giêsu Sống Lại
Những người dân quê trong xóm
đạo mặt vui tươi đang rước kiệu nhân ngày lễ Phục Sinh. Thánh Giá
bằng lá gồi được họ bện là biểu tượng của sự tranh đấu khó khăn
của họ. Những chiếc lá gồi dài họ vun trồng nuôi dưỡng bầy tỏ ý
niệm của họ về sự vinh thắng. Phải có buồn phiền, nhưng cũng có vui
sướng nữa. Phải có lo sợ, nhưng cũng có tình yêu. Phải có công việc
nặng nhọc, nhưng cũng sẽ có sự an lạc sau này. Và phải có chết đi,
nhưng sẽ có sống lại. Những nụ cười nở ra trên gương mặt dày dạn
nắng mưa của những người nam và nữ đi kiệu nói lên một đức tin sâu
xa vào sự Phục Sinh. Ðây là sự tin rằng đời sống mạnh hơn sự chết,
nhưng còn cho chúng ta hương vị đước nếm thử trước của niềm vui vĩnh
cửu. Những con mắt người mù bỗng nhiên có thể sáng lên với niềm hy
vọng, và những chân trời mở rộng xa hơn tần nhìn hạn chế của một
nhân loại ích kỷ. Người nghèo của thế giới mang trong tim họ một đức
tin sống lại, một đức tin đã hiểu rằng mọi tạo vật đã được dựng
lên xong xuôi, và không có gì phải vứt đi uổng phí. Thế giới đã
được biến thành một thiên đường, một trái đất mới. Những nụ cười
nở ra trên môi của những người nghèo trên thế giới: Việt Nam,
Bosnia, Peru, Nepal, Pakistan, Burundi, Sudan, cùng trên tất cả thế giới
này, cho chúng ta thoáng thấy chân lý của sự phục sinh. Những nụ cười
này được nở ra từ những đáy tim đã biết đến tình yêu chân thật và
vĩnh cửu.
Một sáng ngày đầu tuần kia, Maria
Madalêna, và Maria Mẹ của Giacôbê và Salômê thấy ngôi mộ trống
rỗng và nghe tiếng một người nam mặc áo trắng:
"Ngài không còn ở
đâỵ" Hai trong các môn đệ của Ngài là Phêrô và Gioan vào trong mồ
và thấy các tấm khăn liệm được vứt dưới đất và cả tấm khăn chùm
đầu của Chúa Giêsu. Maria Madalêna nghe Ngài gọi nàng bằng tên mình,
và Clêôpa cùng bạn hữu đã nhận ra Ngài ở Em-mau qua lúc bẻ bánh.
Vào buổi tối cùng ngày, Ngài đến giữa các môn đệ và nói:
"Chúc
lành cho các con", và cho họ thấy bàn tay và cạnh sườn của Ngài. Khi
hai diều này xẩy ra, những lời nói thoát ra khỏi sự yên lặng cuả ngày
Thứ Bảy Thánh, và đánh động những tấm lòng và trí óc của các
người nam và nữ đã biết và đã yêu Chúa Giêsu. Những lời đó là:
"Ngài đã sống lại, thật sự sống lạị" Lời này được la to trên những
mái nhà hay được viết trên các tấm bảng được đem trưng bầy trên
khắp thị trấn. Lời này được nói nhỏ vào từng lỗ tai, như một sứ
điệp bí mật chỉ có thể được nghe và hiểu bởi những trái tim đã hằng
ao ước thấy vương quốc dến, và đã nhận ra những dấu chỉ đầu tiên
của vương quốc này qua những thành qủa của người nam thành Nazareth.
Mọi sự dều khác và mọi sự đều giống nhau đối với những ai thưa
"vâng" với Tin Mừng được ban bố sâu rộng qua mọi thế hệ, trên khắp
thế giới. Cây vẫn là cây, sông vẫn là sông, núi vẫn là núi, và
loài người, trong tim họ vẫn có thể lựa chọn giữa tình yêu và sự lo
sợ. Nhưng tất cả những cái đó đã được nâng lên trong thân xác đã
sống lại của Chúa Giêsu, và được đặt trong tay phải của Thiên Chúa.
Người con hoang đàng được đặt vào
lòng mẹ, kẻ kế vị chân chính đã được khoác cho áo dẹp nhất và deo
cho chiếc nhẫn qúy giá nhất, và các anh chị em được mời đến để ngồi
cùng bàn. Tất cả mọi sự đều giống nhau, và được làm cho đổi mới.
Trong khi chúng ta sống đời sống với một đức tin được phục sinh, gánh
nặng của chúng ta trở nên nhẹ nhàng và ách chúng ta dễ dàng, vì
chúng ta đã tìm thấy sự yên tĩnh trong trái tim hiền lành và khiêm
nhường của Chúa Giêsu sự trực thuộc mãi mãi vào Thiên Chúa. Tin
Mừng được đem cho người nghèo khó, sự giải phóng cho kẻ tù đày, sự
sáng mắt cho người mù, sự tự do cho người bị áp bức, và năm hồng
ân Thiên Chúa đướ.c công bố. Và như thế nụ cười của Chúa và nụ cười
của dân Chúa gặp nhau và trở nên một, trong ánh sáng vĩnh cửu chiếu
soi trong bóng tối.
Mai Thư