Một Người Chỉ Sống Cho Kẻ Khác:
Thánh Maximilian Kolbe:
Người Anh Hùng Auschwitz

 


Ðây là câu chuyện đời của vị Thánh Ba Lan được phong thánh 41 năm sau khi tử đạo bởi Ðúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ðệ Nhị.

Maximilian Kolbe là một Linh Mục dòng Phan-xi-cô bề trên của nhà dòng tại Niepokalanow, Ba Lan. Ngài đã từng đi Nhật Bản giảng đạo nhiều năm. Khi trở về bị Gestapo bắt và cầm tù tại Auschwitz năm 1941, mang số tù 16.670. Tại đây sau khi một tù nhân đào tẩu, quân Ðức trừng phạt toàn thể trại tù bằng cách chọn 10 người đem nhốt trong dãy 14A để cho chết lần ámòn vì tuyệt thực.

Cha Kolbe đã tình nguyện chết thay cho trung sĩ Francis Gajowniczek, một người có vợ con. Vẫn còn sống sau hai tuần lê tuyệt thực, ngày 14 tháng 8, năm 1941, cha Kolbe tình nguyện lãnh liều thuốc chích giết người.

Cha được phong Á Thánh năm 1971 bởi Ðức Giáo Hoàng Phao-lô Ðệ Lục. Trong lễ phong thánh năm 1991, trung sĩ Francis Gajowniczek và gia đình áđã hiện diện.

Bà Patricia Treece là tác giả cuôn sách và dịch giả là Bùi Hữu Thư. Bà Patricia Treece đã phỏng vấn những người còn sống khi xưa đã được tiếp xúc với cha Kolbe. Hạnh của Thánh Kolbe có lẽ đầy đủ nhất vì đây chính là những lời kể chuyện của những nhân chứng bằng xương bằng thịt đã nói lại về con người kỳ dị đầy lòng vị tha này.

Cha cũng là nhà báo, nhà xuất bản, và nhà giám quản đại tài. Những cơ sở cha gây dựng tại Ba lan và Nhật đã nói lên tài cai quản khéo léo của cha. Cha là người rất khiêm nhường, và giản dị về ăn uống. Lối sống đạm bạc và thiếu thốn của cha đã khiến cha lâm bệnh nhiều lần. Ðây là một tấm gương sáng để chúng ta noi theo. Một con người rất gần gũi với chúng ta vì chỉ mới chết cách đây cótrên 50 năm.

Bạn đọc sẽ phải rơi lệ. khi đọc câu chuyện của vị anh hùng quả cảm nhưng đầy lòng nhận hậu nàỵ Các bạn đã nếm mùi của các năm tháng dài sống trong các trại học tập cũng sẽ thấy rất gần gũi với những hành động của bọn độc tài Ðức Quốc Xã. Những bạn đã đọc và biết về Holocaust cũng sẽ thấy lại những hình ảnh ghê sợ của các trại giam, các phòng tắm hơi độc giết người, và các lò thiêu xác.

Tạ Tuyết-Cường giới thiệu
Những
Ðiều Kì Diệu: Người A" Là Ai"

Ðã qua gần 22 năm dể một dứa hoc. trò, học chậm như tôi, mới dể ý nhận biết thêm về Một Thiên Chúa nhân từ vô cùng, kiên nhẫn vô song,... qua những chứng tích trong đời tôi! Trong tôi, có một niềm vui dâng trào, cảm dự vào niềm vui của bà thánh Elisabeth khi gặp Ðức Me, và thốt lên: "Bởi đâu, tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tô...!" Dù niềm vui của bà có đến muộn, nhưng niềm hi vọng đã đâm chồi, nảy lộc trong trái tim bà.

Ðã qua gần 22 năm, tôi mới dể ý tới một người đã từ lâu dến trong đời! Vào gần cuối năm 1976, cỡ tháng Oct. tôi bồng bé gái đầu lòng, khoảng gần 3 tháng tuổi đời, ngồi chụp hình dưới chân tượng một ông, tôi đoán là ông thánh nào đó, ở Seibo No Kishi Shudojokai, thuộc Konagai-cho, Nagasaki Ken, Nhật-Bản. Với ông đó, tôi không hề để tâm tìm biết ông ta là ai"!

Phải qua gần 22 năm sau, vào độ tháng giêng năm 98, anh chị Mai-Thư đã gửi đến tặng vợ chồng tôi cuốn sách, ngoài bià và trong sách có hình giống tượng ông đó. Cuốn sách nói về:

MỘT NGƯỜI CHỈ SỐNG CHO KẺ KHÁC MAXIMILIAN KOLBE
Vị thánh của Auschwitz theo lời những người biết ngài.
Patricia Treece Bùi Hữu Thư chuyển ngữ

Tôi lục đục di tìm lại một tấm hình, khổ 8X10, mà tôi nhớ khi bà nội mấy cháu nhỏ, lúc còn sống, vẫn giữ treo trong phòng bà. Tôi tìm thấy hình này ở thùng sách tài liệu Phong Trào ÐH, ở garage! Tấm hình này là một trong những món quà mà Mẹ Bề Trên và các Sơ của Seibo No Kishi Shudojokai ban tặng, trong bữa tiệc tiễn, trước khi chúng tôi lên đường qua Mĩ. Tôi tò mò, thích thú đọc, nhất là chương năm, đề cập tới giai đoạn Maximilian Kolbe và mấy bạn đồng hành qua Viễn Ðông, lập cơ sở phát hành báo phát "chùa" và truyền giáo tại Nagasaki, Japan. Ðọc kĩ chương 13, khi cha bị giam trong trại tù Auschwitz với cảnh dã man, tàn bạo, khủng khiếp, tôi khó có thể tượng tưởng nổi! Chương này bổ túc cho cuốn "Night" mà tôi đã đọc. "Nigh" của Elie Wiesel ghi lại để tưởng nhớ về cái chết của cha mẹ và người em gái của ông trong chốn dịa ngục trần gian đó.

Cùng lúc, tôi đọc sách và nhìn, ngắm tấm hình Maximilian Kolbe, linh mục dòng Phanxicô, với chiếc áo dòng nâu gụ, giống tấm hình có trong sách, trang 195, chụp vào năm 1940. Nhưng, trong hình tôi có, khổ lớn, giấy láng, màu nâu, điểm trắng, xanh dịu, tôi thấy cái hấp lực của khuôn mặt, vầng trán, đôi môi, và đôi mắt lạ lùng. Bàn tay cha để bên trên trái tim. Bên cạnh Maximilian Kolbe có triều thiên mà Ðức Trinh Nữ Maria đang trao ban, gắn những cánh hoa Phục Sinh trắng ngần. Trong hình cũng có bên góc trái một trái tim quấn vòng gaị và thánh gía với ngọn lửa yêu tỏa sáng trên thánh nhân (tôi doán là hình ảnh của Ðức Giêsu Kitô). Khi đọc sách, tôi hồi tưởng, nhớ dến người nữ đệ tử của cha Maximilian Kolbe, và của thánh tổ Phanxicô, đó là Mẹ Bề Trên của Seibo No Kishi Shudojokai. Mẹ có khuôn mặt diụ, tươi, dẹp, trừ đôi mắt. Tôi vẫn còn đang thắc mắc không biết có bao giờ và có ai đã nhìn thấy đôi mắt ấy! Vì lúc nào Mẹ cũng đeo cặp kính có màu khá đậm khiến tôi không thể thấy đôi mắt bên trong! Cho dù Mẹ dã phá lệ dạo một bản nhạc trên chiếc piano để đáp ứng, trong buổi tiệc tiễn chúng tôi đi Hoa-Kì, sau khi vợ chồng tôi gân cổ song ca hai bè, gào lên nỗi thảm thiết, chới với, qua bản thánh ca "Trên con đường về quê (trời) mà vắng bóng Mẹ (Maria)..." là đời con đi... đoong, tiêu cả xác hồn, vì đã thấm rồi! Không biết Mẹ Bề Trên có bao giờ chịu phá lệ bỏ kính cho tôi khỏi thắc mắc, tò mò!" Ngay cả trong lễ khấn của các sơ có Ðức Cha chủ tế, cặp kính như chẳng bao giờ rời khỏi đôi mắt ấy!. Cả gần một năm sau ở US, tôi gặp lại mẹ cùng với bà bác sĩ Nhật tháp tùng, đến Wisconsin, USA, Mẹ Bề Trên vẫn cócặp kính dính liền đôi mắt! Tiếc thay! Dù sao, tôi cũng nhận ra lòng yêu thương của Thiên Chúa qua người môn đệ của Ngài là Mẹ Bề Trên của Seibo No Kishi Shudojokai.

Maximiliana Hirosawa, cũng là dệ tử của thánh Maximiliana Kolbe, đã khấn dòng vào dịp chúng tôi có mặt tại dòng ở Nhật, và tham dự thánh lễ. Chừng 14 năm, sau khi chúng tôi chia tay với Sơ, ở phi trường Tokyo, Japan. Sơ đã qua US thăm và có dịp ghé đến Loyola Retreat House, ở Oregon, vào dịp Họp Mặt cuối năm 90 của Phong Trào ÐH tại đó. Sơ đem theo những qùa tặng của dòng, trong dó có hình Ðức Trinh Nữ Maria bồng hài nhi Giêsu vẽ trên lụa, và cỗ tràng hạt bằng gỗ nâu quí, nhẹ (sau này, khi có dịp ghé thăm vợ chồng Dũng ở Wạ, tôi đã trao tặng cho Tâm trên giường bệnh.). Sơ Maxi. là người gần guĩ chúng tôi nhiều, đã dẫn chúng tôi đi nhiều nơi, lắm chỗ, chỉ trong thời gian ngắn chừng hai tháng ở Nhật. Tôi thấy mình được Chúa chăm thương đặc biệt, tôi ngơ ngác, "ướt như chuột lột" đã lóp ngóp bò lên từ biển Thái Bình mênh mông, được đặt vào "một chĩnh gạo" nơi đầy của ăn tinh thần lẫn vật chất là tu viện nữ ở Nagasaki.

Còn có thật nhiều dịp, nhiều điều, để cho tôi nhận biết về lòng khoan dung, nhân từ của Thiên Chúa qua các tôi tớ của Ngài là thánh Maximiliana Kolbe và đồ đệ. Ðể tôi nhận biết và thấy niềm vui khi Ðức Trinh Nữ Maria đã dâng lời ca tụng: "Chúa đã làm cho tôi biết bao điều kì diệu..." và vui như khi hai "bà bầu" gặp nhau, trong khi đức ông chồng già của bà thánh Elisabeth, cũng thích mà nín thinh, chẳng nói nên lời, cho đến khi cắt bì con trẻ, ông mới mở lời, đoan quyết đặt tên cho trẻ sơ sinh ấy là Gioan Tiền Hô, để rao truyền về "một người chịu chết cho muôn người được cứu rỗi." Người ấy đã truyền lại những môn đệ tiêu biểu như thánh Maximiliana Kolbe cũng là "Người cho tha nhân".

Xin gửi lời chân thành cám ơn những nỗ lực quí báu và lòng quí mến mà anh chị Thư-Mai đã dành cho Tuyết-Cường. Xin Thiên Chúa dộ trì, luôn ban ân phúc để anh chị và Việt Hội Thần Học tiếp tục truyền bá những gương lành thánh để mọi người bắt chước, học theo.