Bí Tích Hôn Nhân


I. Hôn Nhân và Gia Ðình Trong Cựu Ước:

Dựa trên Sách Sáng Thế Ký chương 2 của nhóm Gia-Vê: Hôn nhân là sự kết hợp của hai thân thể và sự hiệp thông giữa vợ chồng, phản ảnh đời sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Tình yêu thu hút hai người kết hợp lại với nhau để trở nên một về thể xác, tinh thần và tâm linh. Tác giả của sách Sáng Thế không phủ nhận sự sinh đẻ trong hôn nhân, nhưng nhấn mạnh đến thành qủa của lứa đôi trong tình nghĩa vợ chồng. Sự sinh con đẻ cái chỉ là vấn đề phụ so với hạnh phúc của tình yêu kết hợp.

Chúa nói: "đàn ông ở một mình không tốt. Chúa dựng Eva cho Ađam có bạn đời, ngoài những muông thú chỉ là đồ chơi. Chúa dựng con người cho giống hình ảnh của Thiên Chúa nên phải có nam có nữ và có sự kết hợp giữa hai người như sự kết hợp giữa Ba Ngôi. Thuở ban đầu Chúa dựng nên nam nữ là để cho họ sống chung (tota vitae communio).

Sách Sáng Thế chương 1 của nhóm Thầy Cả lại có một đường hướng khác: Ðàn ông và đàn bà được kết hợp với mục đích là giữ cho giòng giống của dân Chúa không bị tiêu diệt.; sự kết hợp trong tình yêu không giữ vai trò trọng yếu.

1. Hôn Nhân dưới chế độ tội lỗi:
Ông Abraham có hai vợ.
Vua Solomon có 300 vợ chính và 700 vợ lẽ. Người đàn bà không được bình quyền. Ðàn bà là gia sản của chồng. Ðiều răn thứ 9: người vợ được sắp chung với nhà cửa, đất đai, và con dê khi điều răn nói không được ham muốn của cải của người khác.

2. Hôn nhân và Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái:
Sự
kết hợp vợ chồng theo các tiên tri, là biểu tượng cho tình yêu và sự thủy chung của Thiên Chúa. Tiên tri Hô-sê nhìn thấy trong mối tương quan của Thiên Chúa đối với dân Người một mầu nhiệm của Giao Ước, một giao ước không giống như một giao kèo xã hội, mà là một sự kết hợp thực sự của lứa đôi, đã bị hủy hoại vì Ít-ra-en phạm tôi dâm loàn. .

Trong sac'h Hô-sê mô tả tình yêu của Thiên Chúa và dân người y như mối tình giữa một người đàn ông và một cô gái: "Ta sẽ cưới con làm vợ trong công bằng và chân chính, Ta sẽ cưới ngươi trong tình yêu và khoan dung, Ta sẽ chung thuỷ với ngươị.."

Sách Diệu Ca là một tập thơ tình mô tả tình yêu say đắm của một Thiên Chúa đối với dân người theo đường lối của người Do Thái như đã được diễn tả trong Isaia (5:1-7, 54:4-8) Giê-rêmêia (2:21-32), và Êdêkiên (16: 23).

Giêrêmia lên án Ít-ra-en và tuyên bố rằng họ đáng bị xua đuổi. Tuy nhiên tình yêu của Thiên Chúa tồn tại đến muôn đời, và Thiên Chúa sẽ thiết lập một giao ước mới.

Có ba từ ngữ được tiềm tàng trong truyền thống này: "ahabah": sự thúc đẩy tự nhiên làm cho người đàn ông bị đàn bà thu hút; và "emunah": sự trung thành trong giao ước; và "hesed" là tổng hợp của cả hai: tình yêu dịu ngọt kết hợp với sự chắc chắn của giao ước. Nhưng thực ra, hôn nhân tại Ít-ra-en còn thua kém rất xa lý tưởg nàỵ Hôn nhân trong Cựu Ước là cách thức đảm bảo để có con nối dõi tông đường thay vì để đạt được hạnh phúc qua tình yêu trao cho nhau. I

I. Hôn Nhân và Gia Ðình Trong Tân Ước:

Sự kết hợp giữa người nam và người nữ không còn bị chi phối hòan toàn bởi trách nhiệm sinh con đẻ cái. Hôn nhân có mục đích tạo nên một cộng đồng tình yêu và chung thuỷ rập theo khuôn mẫu của Chúa Kitô và giáo hội. Theo quan điểm về tôn giáo, người phụ nữ đã được giải phóng, vì tất cả những ai ở trong Ðức Kitô "đều không phân biệt nam hay nữ." (Galát 3:28). Nhưng phẩm giá của người đàn bà về tôn giáo không được công nhận trên bình diện xã hội.

Hôn nhân vẫn tiếp tục thua kém tình yêu hôn nhân "agape" giống như tình yêu của Chúa Kitô đối với hội thánh. Trong Tân Ước, "agape" biểu hiệu cho cả mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người cũng như mối liên hệ giữa người chồng và vợ. Tình yêu này tiếp nối ý tưởng "hesed" trong Cựu Ước là một giao ước kết hợp đôi vợ chồng và cũng là giao ước của Thiên Chúa với dân Người. "Hesed" tổng hợp tình trạng pháp lý trong hôn nhân với sự tự do để trực thuộc vào tình yêu. Hôn nhân có ý nghĩa tượng trưng cho tình yêu làn thánh "agape", một tình yêu tự do và chung thuỷ. Hôn nhân công giáo là bí tích của tình yêu chung thuỷ.

A. Giáo Huấn của Chúa Giêsu:
"Người đàn ông lià bỏ
cha mẹ mà luyến aí vợ mình, và cả hai nên một thân thể" Người nam bỏ cha mẹ đi ở rể, đây là chế độ mẫu hệ xưa kia. Chúa dạy, vợ không bỏ chồng, chồng không bỏ vợ. Tuy nhiên vì Thánh Phaolô tin rằng:

1. Chúa sắp lại đến.
Giờgần đến rồi, nên ở độc thân thì hơn.

2. Ngày tận thế sắp tới:
"Từ nay có vợ
hãy ăn ở như không có vợ.. vì bộ mặt thế gian này đang biến đi." Hãy ở vậy mà thờ phượg Chúa.

B. Chế độ Ða Thê ở nhiều quốc gia:

1. Ở Việt Nam:
Thời xưa khi Dòng Tên cử
các vị thừa sai đến giảng đạo gặp trở ngại lớn về vân đề này. Cha Bá Ða Lộc trong Phép Giảng Tám Ngày phải than rằng: "Chúng hứa nhiều mà làm ít. Thề bỏ vợ bé trước khi rửa tội rồi sau đó chứng nào tật ấy. Tại Việt Nam chế độ đa thê được đặt ra vì vấn đề đạo hiếu. Người con trai cả phải có con trai để nối rõi tông đường. Cho nên nếu không có con trai thì chính bà cả phải tìm vợ lẽ cho chồng. Ðứa con sanh ra coi như của bà cả và có quyền thừa tự

Do đó đa thê không phải là vấn đề nhu cầu tính dục như ở Âu Châu. Con cả được hưởng từ đường (để thờ cúng cha mẹ tổ tiên) và của hương hoả (đất đai để cấy cầy lấy tiền mà nhang khói.). Cha Leopold Cartier đã ở Việt Nam 50 năm, ngài qủa quyết rằng việc đa thê ở nước ta không phải là vô luân.

2. Tại Phi Châu:
Các bộ
lạc Phi Châu có truyền thống cho phép các cặp trai gaí tiến đến hôn nhân qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu là sống chung cho đến khi có con. Ðây là để chứng tỏ họ hợp nhau về tâm hồn và thể xác và có thể sinh sản con cái. Sau giai đoạn này là giai đoạn hợp thức hóa bằng hôn nhân.

Chế độ đa thê ở đây không phải là vì mục tiêu thờ kính như VN mà vì vấn đề an sinh xã hộị Những người càng giầu thì càng nhiều vợ. Vì những người đàn bà cần có nơi nương tựa. Do đó đây không phải là vấn đề sắc dục mà là vấn đề xã hội. Giáo Hội gặp rất nhiều chuyện nhức đầu khi truyền giáo tại Phi Châu.

3. Tại Âu Châu:
Vấn đề đa thê là vấn đề sắc dục.
Người vợ thứ được gọi là nàng hầu (concubine).

C. Ðặc Tính độc nhất (unity) và bất khả phân ly của hôn nhân:

1. Ngày xưa :
Chỉ
có một nam và một nữ. Chúa nói một vợ một chồng không thể phân ly.

2. Giáo Huấn của Thánh Phaolô:
Thơ gửi tín hữu Êphêsô (6-21) Người chồng phải yêu thương vợ,
trong khi người vợ phải phùng tục chồng. Vì chồng là cái đầu, y như Chúa là cái đầu của Hội Thánh. Thơ 1 Corintô (chương 5): Thánh Phaolô nói phải lập gia đình để tránh sự dâm ô. Ông nói đây là một sự nhân nhượng không phải là một mệnh lệnh. Nếu các bạn sống được một mình như tôi thì tốt. Nhưng nếu yếu lòng không tiết dục được thì cứ lấy vợ, còn hơn là để bị thiêu đốt.

III. Ðức Tin và Bí Tích:

Tất cả mọi bí tích đều là bí tích của đức tin. Nhưng hôn nhân, xuất xứ từ bản thể của con người trong xã hội và trong đó con người chính là "chất liệu" của bí tích, cho nên đức tin nổi bật nhất. Ðiều này cũng đúng cho bí tích thống hối, và là một bí tích tuỳ thuộc.

Theo Thánh Aquinas, hành động thống hối đền tội trở nên chất liệu hợp lệ cho bí tích thống hối. Dĩ nhiên cả người lãnh nhận lẫn đức tin của linh mục đều không làm nên bí tích. Nhưng trong bí tích thống hối và hôn nhân, chính hành động của người lãnh nhận được nâng lên hàng bí tích, đức tin phải được coi là thiết yếu cho bí tích.

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Bài giảng của cha Phan Ðình Cho ngày 15/10/97 tại Giáo Xứ Nữ Vương Việt Nam.

2. Louis-Marie Chuavet, "Marriage, a Sacrament Unilike the Others", Theology Digest 25 (1978) pp. 240-245.

Mai Thư