Triết Lý Cuộc Ðời Hay Học Ðể Kiếm Tiền"
Ngày xửa ngày xưa, sinh
viên đến Ðại Học để học hỏi vềý nghiã của cuộc đời. Họ nghiên
cứu triết lý của Kierkegaard và Kant, đối phó với những vấn đề của
chủ nghiã hiện sinh, thảo luận về chiến tranh, bom nguyên tử, và về
vấn đề nên hay không nên biểu tình phản đối.
Ba mươi năm về trước, theo giáo sư
Alexander Astin ở Ðại Học UCLA, "sinh viên chỉ chú trọng đến những đề
tài như "Ðời sống có ý nghiã gì"" và
"Thiên Chúa là gì"" Chuyện ngày
xưa đó bây giờ không còn nữa. Một cuộc nghiên cứu được công bố bởi
Ðại Học UCLA và American Council on Education so sánh thái độ của 9
triệu sinh viên năm thứ nhất đã trả lời các câu hỏi của một cuộc
trắc nghiệm được thực hiện tại 1500 đại học trong suốt ba mươi năm
quạ
Năm 1967, 82% sinh viên năm thứ nhất cho
biết "rất quan trọng" hay "tối cần" cho việc
"phát triển một triết lý
có ý nghiã cho cuộc đời". Ðây là mục tiêu được sắp hạng cao nhất
trong các sinh viên năm thứ nhất. Ngày nay, mục tiêu này sắp hạng
thứ sáu và chỉ được 42% sinh viên đồng ý. Ngược lại, năm 1967 dưới
phân nửa sinh viên cho hay "điều tối cần" hay rất quan trọng" là
"phải
có đầy đủ tiền bạc". Ngày nay đây là mục tiêu cao nhất được 74% sinh
viên lựa chọn. Ly Tưởng và Ðời Sống Vật Chất đã đổi chỗ cho nhau.
Ngày nay mục tiêu của nam và nữ đã
gần đi song song với nhau. Ba mươi năm về trược dưới phân nửa phái nữ
dự trù có bằng cao học. Ngày nay, gần 68% sinh viên nữ dự trù theo
đuổi những bằng cấp cao hơn cử nhân, so với 65% sinh viên nam. Ba mươi
năm về trước sinh viên nam muốn thành luật sư chín lần nhiều hơn phái
nữ. Ngày nay sự khác biệt giữa nam và nữ chỉ vỏn vẹn có nửa phần
trăm. Trong số những sinh viên năm thứ nhất muôn trở nên bác sĩ và
nha sĩ, số sinh viên nữ trội hơn số sinh viên nam.
Những giá trị tinh thần của phái nữ
bây giờ đã được củng cố. Khó mà tin được rằng năm 1967, hai phần ba
sinh viên nam đồng ý rằng, "Hoạt động của phụ nữ cần được giới hạn
trong gia đình." Ngày nay con số giảm xuống chỉ còn 31%. Nhưng vẫn có
một sự cách biệt giữa hai phái: chỉ có 19% phái nữ đồng ý với điều
này.
Giáo sư John Gardner của Ðại Học USC than
là cuộc nghiên cứu cũng xác định rằng,
"phái nữ đã tiêm nhiễm một
số các tật xấu của phái nam. Họ hút thuốc lá và uống rượu nhiều
hơn." Ba mươi năm về trước gần 50% sinh viên nam hút thuốc lá. Bây giờ
nhiều sinh viên nữ hút thuốc hơn nam: khoảng 16% so với 13%. Một điểm
khác biệt: chỉ có 31.8% sinh viên nữ so với 53.8% nam, đồng ý rằng,
"Nếu hai người thật tình thích nhau, việc làm tình có thê chấp nhận,
mặc dầu họ chỉ mới quen biết nhau một thời gian ngắn.
Các sinh viên năm thứ nhất cho biết họ
bị "căng thẳng" gần gấp đôi, từ 16% năm 1985 tới gần 30% nam( 1996. Vì
lý do của sự lo lắng này, theo ông Gardner, "sinh viên ngày nay rất
thực tế và học cầy cuốc để có điểm tốt." Nhiều học giả gán tội
cho sự bất ổn về kinh tế đã gây nên sự thay đổi này.
Giám đốc học vụ James Spring của đại
học Binghamton, NY cho hay, "Tôi là sinh viên vào thập niên 60, khi ấy
tôi chỉ nghĩ đến triết lý căn bản của đời sống bởi vì tôi không
phải lo kiếm việc làm." Thật vậy, con số những sinh viên bá cáo vấn
đề tối hậu của họ là làm sao có đủ tiền trả học phí, đã vọt lên
từ dưới 9% tới 18% so với bây giờ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm tốt.
Ngày nay, theo ông Gardner, "Vẫn có nhiều sinh viên có việc làm sau
giờ học và tình nguyện làm việc từ thiện và bác ái trong cộng đồng
hơn bao giờ hết. Chúng ta không biết công nhận những ưu điểm của họ
cho đầy đủ."
Mai Thư
(Phỏng theo Báo Times
Magazine, số Tháng 2, 1997)