Đối Thoại Trong Viễn Tượng Đa Phức Tôn Giáo
P. Nguyễn Thái-Hợp, O.P.
Trong mấy thập niên gần đây, đối thọai đă trở thành một danh từ thời thượng, một cách thế sống và một lối giải quyết vấn đề được đề cao trong xă hội. Có thể coi đây là một thành công lớn của nhân loại, khi quyết định dùng trí huệ thay thế cho bạo lực và bom đạn, nhằm giải quyết một cách hữu lư và nhân bản những bất đồng quan điểm, tranh chấp, xung đột ... giữa người với người.
Trên b́nh diện xă hội và chính trị, từ khi bức tường Bá linh sụp đổ, chiến tranh lạnh giai giẳng giữa Đông và Tây đă chính thức chấm dứt, dù vậy tại nhiều vùng trên thế giới, súng vẫn nổ và máu vẫn tiếp tục đổ ra. Tuy nhiên phải nh́n nhận rằng lương tâm nhân loại ở thời đại chúng ta đang tiến dần đến một đồng thuận: yêu cầu giải quyết những xung đột và tranh chấp về xă hội, chính trị, kinh tế và ngay cả quân sự bằng con đường đối thoại. Nhiều người thẳng thắn đặt vấn đề: yêu cầu những giải pháp bạo lực và vũ lực phải nhường chỗ cho lương tri và nhân tính. Hướng giải quyết những xung đột này đặt trọng tâm ở biện pháp đối thoại và đàm phán.
Trong phạm vi tôn giáo, cái thời u buồn và đen tối của những cuộc chiến tranh tôn giáo đang lui dần về quá khứ. Trong xă hội đa nguyên văn hóa này, nhân phẩm và nhân quyền được đề cao. Không ai bị cưỡng bức theo một tín ngưỡng trái với thâm tín của ḿnh. Quyền tự do tín ngưỡng và tự do hành động theo lương tâm được đảm bảo. Đối thoại liên tôn bắt đầu xuất hiện và có nhiều dấu hiệu sẽ trở thành một cách thế truy tầm chân lư.
Những ḍng dưới đây cố gắng phân tích ư nghĩa và tầm quan trọng của đối thoại trong viễn tượng một xă hội đa diện văn hóa. Làm sao nối kết xác tín về nội dung đức tin và thái độ bao dung? Đối thoại liên tôn có thể là một hành tŕnh kiếm t́m chân lư và một cách thế rao truyền Tin Mừng cho con người hôm nay?
1)- Ư nghĩa của đối thọai.
Có thể nói đối thọai là một từ tương đối mới trong tiếng Việt. Nghĩa đen là nói chuyện, kẻ nói đi người nói lại, trao đổi, đàm phán với nhau. Người ta đă dùng hai từ này để dịch chữ dialogos trong tiếng Hy Lạp. Tiếp đầu ngữ dia vừa có nghĩa là tách rời, phân biệt vừa có nghĩa là thông qua. Trong khi đó logos là lời nói, lư luận, lư trí, trí huệ, nhưng cũng ám chỉ chiều sâu của ngôn từ, ư niệm... Có người hiểu logos phần nào na ná như chữ Đạo của Lăo Tử, cho nên không thể chuyển ngữ mà không mất mát.
Đối thọai trước hết là nói cùng và nói với người khác. Thực ra, không phải chỉ nói suông, nhất là nói một ḿnh hay nói để thóa mạ, vu khống, lấn át người khác. Lời nói ở đây phải là nhịp cầu bằng biểu tượng, tâm linh hay hành động để đi tới tha nhân, để lấp đầy khoảng trống và hố cách biệt giữa ta với người. Nó đ̣i hỏi phải vượt thắng cảm xúc, thiên kiến, tập quán để b́nh thản đặt vấn đề, ngơ hầu có thể堬ắng nghe và lănh hội quan điểm của người.
Dưới cái nh́n của hiền triết Socrate, đối thoại là thái độ dấn thân kiếm t́m chân lư, xây dựng niềm cảm thông giữa người với người. Ông tổ triết học tây phương quan niệm đối thoại như một đường hướng triết lư giáo dục. Thật vậy, đối với Socrate, sứ mệnh của giáo dục là soi sáng và hướng dẫn, chứ không phải truyền đạt kiến thức một cách máy móc cho người khác. Đây là một hành tŕnh chung giữa thầy và tṛ. Socrate thường mệnh danh phương pháp giáo dục của ông là khích biện pháp (maieutique) và ông thú nhận đă học được nó nơi nghề hộ sinh của mẹ ông. Cũng như hộ sinh không bao giờ có nghĩa là sinh thay cho người khác, mà chỉ giúp đỡ để sản phụ sinh dễ dàng và đảm bảo hơn, nhiệm vụ của giáo dục cũng không phải là chụp lên đầu môn sinh những quan niệm tiền chế, nhét vào óc họ những tri thức khách quan, mà là khai mở, soi sáng, hướng dẫn, giúp đỡ ... hầu làm triển nở chân lư tiềm ẩn trong tâm linh.
Trong thế giới hôm nay, điều kiện tiên quyết của một cuộc đối thoại đích thực là phải chấp nhận đa nguyên, đa văn hóa và trân trọng những khác biệt căn bản giữa người với ta. Người khác tự bản chất không những không thể đồng hóa với ta, mà thực sự khác ta rơ rệt. Chính nơi sự khác biệt này ta t́m thấy căn tính và đặc thù của họ, làm cho họ là họ, chứ không phải là ta hay một ai khác.
Cám dỗ thường xuyên của chúng ta là muốn nhanh chóng loại trừ mọi khác biệt, muốn đúc nặn môn sinh theo quan niệm và h́nh ảnh của riêng ḿnh. Ra như cứ canh cánh sợ rằng người khác, đặc biệt những đứa con tinh thần của ta, sẽ không giống ta. Thế nên ta cố sức nhào nặn, bắt chúng phải vào một khuôn nhất định, phải cảm nghĩ, tư tưởng, hành động y hệt như ta. Tệ hơn nữa nhiều khi c̣n lấy tiêu chuẩn chủ quan của ta để đánh giá, phê phán và xếp loại tha nhân: ai phù hợp với tiêu chuẩn của ta sẽ được liệt vào hạng gương mẫu, ai có lối sống, nếp nghĩ khác ta... sẽ bị nghi ngờ hay đánh gía thấp.
Nếu b́nh tâm suy nghĩ chúng ta sẽ nhận ra tính phi lư của thái độ nói trên. Phần nào nó tương tự như tâm trạng của anh chàng hủi trong sách cổ ngày xưa. Lần kia, vợ anh sinh đứa con đầu ḷng. Anh chàng hết sức nôn nóng, vừa mừng vừa lo. Nửa đêm vội vă thắp đèn đi xem mặt con. Chỉ canh cánh lo sợ đứa con sẽ khác ḿnh, nghĩa là không hủi như anh!
Ở đây chắc chắn không thiếu t́nh yêu và thiện chí. Nhưng nó bị hiểu sai và đặt không đúng chỗ, nên có nguy cơ biến thành chiếc gường Procuste. Theo thần thọai Hy Lạp, Procuste là một tên tướng cướp kỳ khôi. Y có một chiếc gường kiểu mẫu. Mỗi lần bắt được ai, y đặt lên chiếc gường đó để đo. Nếu vừa vặn, y sẽ thả cho đi bằng an; nếu thừa, y sẽ dùng gươm xén bớt; c̣n nếu ngắn quá, y sẽ kéo cho tới khi bằng chiếc gường mới thôi. Suốt dọc lịch sử nhân loại, có biết bao nhiêu lần chiếc giường Procuste này đă được áp dụng trong lănh lực giáo dục, chính trị, tư tưởng, tôn giáo?
V́ không chấp nhận tính đa nguyên và đa diện trong cuộc đời, rất nhiều lần sự khác biệt của tha nhân đă gây nên nhiều nỗi bất an, lo sợ, phiền muộn. Nhiều khi ta đau khổ v́ không chịu nổi sự khác biệt của tha nhân hay v́ thấy tha nhân có lối sống, quan điểm chính trị, niềm tin tôn giáo... không giống ta. Ta quên rằng chính v́ tha nhân là tha nhân nên khác ta, và, nh́n từ một góc độ khác, những khác biệt đó không những có thể làm giàu cho cộng đoàn, mà c̣n bổ túc và làm triển nở bản sắc của riêng ta. Khai trừ những khác biệt giữa người với ta có thể dẫn đến thái độ áp đặt, độc quyền và độc tôn, mà hậu qủa tai hại của nó là có thể khai trừ chính tha nhân. Thái độ đối thoại, trái lại, đ̣i hỏi chấp nhận và trân trọng tính đa nguyên, cũng như sự khác biệt căn bản giữa người với ta để cố gắng bắc nhịp cầu thông cảm và tiến tới một giải pháp thỏa đáng cho cả đôi bên.
2. Ḷng bao dung
Cổ nhân ta thường lấy khoan dũ ôn nhu làm như một đường lối xử thế hợp t́nh hợp lư. Theo danh từ Hán Việt, khoan là rộng răi, độ lượng, c̣n dung là tiếp nhận, tha thứ. Như vậy, khoan dung là rộng ḷng chấp nhận, tha thứ, bao bọc và độ lượng với người khác.
Người ta thường dùng từ khoan dung này để dịch chữ tolerantia của tiếng la- tinh và những danh từ tương đương trong ngôn ngữ Âu Mỹ. Theo nguyên ngữ, tolerantia mang một ư nghĩa khá tiêu cực, ám chỉ thái độ bó buộc phải chấp nhận những điều khó chịu và bực bội về thể lư. Thiết tưởng cũng không nên quên rằng quan niệm tolerantia này xuất hiện vào thế kỷ XVI, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh giữa Công giáo và Tin lành. Sau nhiều cuộc đọ sức tàn khốc, nhưng bất phân thắng bại, hai phe đành chấp nhận giải pháp khoan dung tôn giáo. Dần dần thái độ khoan dung được áp dụng cho tất cả các tôn giáo và niềm tin khác. Cuối cùng, từ thế kỷ XIX, được nới rộng sang lănh vực tư tưởng, xă hội, chính trị.
Do tính phức tạp, hàm hồ và lấp lửng của nó, người ta không khỏi cảm thấy ngập ngừng và do dự khi phải xác định khoan dung là ǵ. Thường thường người ta vẫn hay hiểu khoan dung dưới góc độ tiêu cực. Ra như nó bao hàm một thái độ sống lấp lửng và mâu thuẫn : nghĩ một đàng, làm một nẻo ; không tán thành điều ḿnh cho là xấu, nhưng cuối cùng ra như lại cho phép nó xảy ra ? Phải chăng đó là thái độ tri hành bất nhất, nếu không muốn nói là lập lờ và giả dối? Xem ra trong thực tại cuộc sống, có những trường hợp v́ không thể làm cách khác, nên đành phải chấp nhận thái độ khoan dung! Chẳng hạn khi không đủ khả năng để chống lại sự dữ mà ḿnh lên án, hoặc khi thấy việc loại trừ sự dữ nói trên có thể gây nên những đổ vỡ lớn hơn, nên cực chẳng đă đành chấp nhận khoan dung.
Ngay từ thế kỷ XIII, thánh Thomas đă cho rằng chính Thiên Chúa cũng không muốn cưỡng chế con người trong việc hành thiện. Có một số trường hợp, xem ra Ngài c̣n cho phép xảy ra một số sự dữ bởi v́ việc triệt tiêu những sự dữ này có thể huỷ hoại những điều thiện lớn hơn và gây nên những sự dữ trầm trọng hơn. Từ cái nh́n hiện thực đó thánh tiến sỹ kết luận : Bởi vậy, trong việc trị nước, nhà cầm quyền có thể khoan dung đối với một vài sự xấu, v́ sợ rằng nếu làm ngược lại, một số điều thiện sẽ không được thực hiện hoặc e rằng sẽ xẩy ra điều xấu lớn hơn [1].
Tuy nhiên nếu nh́n từ phía phủ định, nghĩa là từ những ǵ không phải là khoan dung, có lẽ vấn đề sẽ bớt gai góc hay ít phức tạp hơn. Trước hết, khoan dung không có nghĩa từ bỏ các xác tín cá nhân, để trở thành thứ người ba phải. Khoan dung đích thực đ̣i hỏi phải có lập trường và xác tín riêng, nhưng không áp đặt nó và chấp nhận để người khác cũng có những xác tín riêng của họ. Nói cách khác, chỉ thực sự có thái độ khoan dung, khi dám sống và chết với xác tín của ḿnh, nhưng đồng thời biết tôn trọng xác tín của người khác và tạo cơ hội để họ được sống chết với xác tín của riêng họ. Nếu như một người không hề suy tư th́ chẳng bao giờ có xung đột tư tưởng, cũng thế một người ba phải , hoài nghi, không có lập trường ... cũng chẳng bao giờ có thể gọi là người khoan dung đích thực.
Khoan dung đích thực cũng không đồng nghĩa với thái độ thụ động, xề xoà dễ dăi, bất cần, phó mặc. Cũng chẳng phải là thứ mũ ni che tai, để cho thiên hạ sống chết mặc bay. Càng không phải là hành động nhắm mắt làm ngờ trước sự dữ để không phải tỏ thái độ, lấy quyết định hầu đối phó với những hiện tượng tiêu cực. Khoan dung luôn đ̣i hỏi phải có thái độ và biết đánh gía sự đời người thế, mặc dù có những lúc sự đánh giá này chỉ nằm trong tâm thức, chứ chưa biểu lộ ra bên ngoài.
Trong mấy thập niên gần đây, nhiều người cho rằng ư niệm khoan dung theo quan niệm nói trên hơi tiêu cực, nên đă đề nghị định nghĩa khác tích cực hơn, theo đó khoan dung là đường lối xử thế chủ yếu làm sao để người khác được tự do tŕnh bày những quan điểm mà chúng ta không đồng ư và nhất là cho phép mỗi người sống theo những nguyên tắc và xác tín riêng.
Cơ quan văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNESCO) chẳng hạn đă nh́n khoan dung dưới góc độ tích cực đó. Mục đích và ư nghĩa của thái độ khoan dung là tôn trọng quyền lợi và tự do của người khác. Khoan dung là nh́n nhận và chấp nhận những khác biệt giữa các cá nhân. Là biết lắng nghe người khác, trao đổi với họ và hiểu họ. Khoan dung là nh́n nhận sự khác biệt về văn hóa. Cởi mở trước những quan niệm và h́nh thức suy tư khác biệt (...). Khoan dung là nh́n nhận rằng không có văn hóa, quốc gia và tôn giáo nào độc quyền về kiến thức hay chân lư. Khoan dung là một cách thế của tự do : giải thoát ta khỏi những định kiến và thái độ giáo điều. Người khoan dung là người biết làm chủ quan điểm và hạnh kiểm của ḿnh. Khoan dung là một thái độ tích cực đối với tha nhân, tuyệt đối loại trừ cái cao ngạo, tự đắc tự phụ.
Trong viễn tượng đó chúng ta có thể quan niệm khoan dung như một cách thế đối xử nhân ái, cởi mở và tôn trọng. Người khoan dung không hề dửng dưng đối với những gía trị tôn giáo, luân lư, chính trị hay ư thức hệ, trái lại là người có xác tín sâu xa, nhưng đồng thời biết tôn trọng xác tín của người khác. Có thể coi đây như một h́nh thức trần tục hóa và hiện đại hóa ḷng yêu thương tha nhân : biểu lộ một sự trân trọng và chú ư thực sự đối với cuộc sống, nếp nghĩ, quan điểm, chọn lựa... khác biệt với xác tín của riêng ta.
3. Thái độ bất bao dung
Trong lịch sử nhân loại, nhan nhản những sự kiện và chứng tích đau ḷng về thái độ bất khoan dung. Chỉ cần liệt kê những cuộc chiến tranh, những vụ tàn sát đẫm máu v́ lư do quyền bính, chủng tộc, tôn giáo, ư thức hệ, kinh tế, chính trị ... là đă có một danh sách tội ác của bất bao dung. Bao nhiêu máu và nước mắt đă đổ ra! Biết bao đống xương Vô Định đă chất thành núi!
Phật giáo thường được coi là tôn giáo từ bi và khoan dung nhất. Xét theo bản chất giáo lư cũng như cách thức truyền bá Phật pháp, Phật giáo không chấp nhận sự kỳ thị và cưỡng chế , mà lấy ḥa đồng làm cứu cánh, do đó dễ tạo mối quan hệ cộng hưởng với các tôn giáo khác. Tuy nhiên trong giai đoạn hưng thịnh ở thời Lư Trần, Phật giáo một vài lần đă rơi vào cám dỗ đóng vai tṛ chủ thể trong hội nhập văn hóa. Cũng có trường hợp muốn cưỡng chế các tôn giáo khác, chẳng hạn Trần Nhân Tông từng đi các nơi kêu gọi phá bỏ dâm từ[2].
Trong lịch sử cũng không thiếu cảnh các tăng sĩ xách thiền trượng đánh bể đầu, nát xác môn sinh của các giáo phái đối lập! Nếu như chưa thể kiểm chứng được câu chuyện các tăng sĩ Thiếu Lâm tự đi hành hiệp giang hồ, th́ ở Nhật chuyện Phật giáo vũ trang là một thực tại lịch sử. Thật vậy, trong thời trung cổ, tại Nhật Bản, tăng sĩ chia thành nhiều phe phái, vơ trang đầy đủ y hệt như các vị samourai. Đạo tăng binh của các chùa lớn có thể lên tới một hay nhiều trung đoàn, bởi thế họ tung quân đánh nhau, chùa này đánh chùa kia, và dĩ nhiên vị shogun địa phương nào không khéo ḥa giải với chùa, cũng bị đạo tăng binh này đánh cho thất điên bát đảo (...). Những tài liệu tôi được đọc về hiện tượng tăng binh này không thấy nói tới chuyện sau khi khai sát giới th́ các vị tăng binh có khai sắc giới không. Nhưng tôi phỏng đoán là có, bởi v́ (...) nam nhi xứ Nhật, samourai hay không, rất tàn bạo với phụ nữ. Thắng, chiếm được thành địch, là mang phụ nữ ra biểu diễn một đường hải tặc vịnh Xiêm la liền (...). Hiện tượng tăng binh này chỉ chấm dứt khi một chùa nọ mạnh đến độ mang quân về uy hiếp thủ đô Kyoto, mưu sự nghiệp bá vương. Các lănh chúa phàm tục khác phải đi một đường bát quốc liên quân mới dẹp yên dần dần các đạo tăng binh này[3].
Chẳng ai có thể phủ nhận rằng trong mấy thế kỷ vừa qua các nước Tây phương đă phạm rất nhiều lầm lỗi chống lại ḷng nhân ái và quyền lợi của các dân tộc nhược tiểu. Nhưng đừng vội cho rằng bất khoan dung là độc quyền của Tây phương. Lịch sử của Á Đông cũng đầy dẫy những chuyện dă man, tàn bạo, bất khoan dung.
Phân tích về cái xấu của người Trung quốc, Bá Dương thẳng thắn nêu câu hỏi: Trung quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường một nước lớn. Thế mà, thay v́ có tấm ḷng bao la, người Trung quốc lại có tấm ḷng thật hẹp ḥi. Cái tấm ḷng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nh́n thấy được trên màn ảnh (...). Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái mà đă có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ư với ḿnh th́ sự thể sẽ ra sao?
Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung quốc đă đánh nhau rồi th́ cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết. Tại sao chúng ta có thể thiếu ḷng bao dung đến như thế? (...)
Thời phong kiến xưa, sau một triều vua lại đến một triều vua, chẳng có ǵ thay đổi. Lật đổ triều đại trước, thiết lập triều đại mới, cách biểu thị duy nhất về sự bất đồng của ḿnhvới triều vua trước là đốt phá các cung vàng điện ngọc mà triều trước đă xây để làm cung điện mới của ḿnh.
Lư do viện dẫn để đốt phá vẫn được đưa ra là v́ triều trước chính sách bạo tàn, triều đại của ḿnh là nhân hậu. Nhân hậu nên mới phải làm cái việc đem chính sách nhân hậu của ḿnh để tàn phá nhà cửa của chính sách hung tàn. Cứ đời này sang đời khác như thế, về mặt tư tưởng th́ chẳng xây dựng được ǵ, nhưng nhà cửa th́ cứ tiếp tục đốt phá để biểu lộ sự khác nhau[4]
Ở Việt Nam chẳng hạn, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, các nhà Nho và các quan lại theo Khổng giáo đă không kiên tŕ đấu tranh bất khoan nhượng để loại trừ Phật giáo khỏi vai tṛ lănh đạo? Nh́n kỹ sẽ thấy rằng thái độ của nhà Nho đời Trần đối với Phật giáo có một cái ǵ tương tự với thái độ của nhà Nho triều Nguyễn đối với Công giáo. Chính thái độ bất bao dung của lớp sĩ phu của sân Tŕnh cửa Khổng đă gây nên không biết bao nhiêu tang tóc kinh hoàng cho người Công giáo.
Ông Nguyễn Khắc Viện cho rằng sở dĩ các nhà Nho chủ trương loại trừ Phật giáo là bởi v́ đối diện với Phật giáo là đạo quả quyết mọi sự ở thế giới này đều hư ảo, thậm chí không thực, chủ trương diệt ngă, và hướng tâm trí người ta về những hy vọng diêu thế, Khổng giáo lại dạy rằng con người trước tiên có tính xă hội và bị rằng buộc bởi những nghĩa vụ xă hội. Đến triều Nguyễn, các nhà Nho đă phản ứng mạnh mẽ hơn nhiều chống lại Kitô giáo, không phải chỉ v́ các thừa sai Công giáo đă nhiều khi đóng vai tṛ mở đường cho chủ nghĩa thực dân, mà cũng v́ những khái niệm ơn Chúa, bí tích, Thiên Chúa nhập thể đều xa lạ với tư tưởng Khổng giáo[5].
Thái độ bất bao dung này không phải chỉ được áp dụng cho những người ngoại đạo, mà ngay cả đối với chính giới sĩ phu. Việc giết công thần và nhất là lệ tru di tam tộc (giết cả ba họ), chẳng hạn, là một dẫn chứng hiển nhiên nhất. Thái độ miệt thị và coi rẻ phụ nữ phải chăng cũng là một hệ qủa của quan điểm thủ cựu của các môn đồ thuộc đạo Khổng? Rồi sự căng thẳng giữa uy quyền và tự do, tập thể và cá nhân không những rất rơ nét trong xă hội Đông phương ngày xưa, mà vẫn c̣n đè nặng trên cuộc sống hôm nay.
Khách quan mà nói, nơi các tôn giáo độc thần như Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, thái độ tuyệt đối hóa và bất bao dung thường cao độ hơn. Về vấn đề này, Giáo hội Công giáo đă đấm ngực ăn năn, v́ trong qúa khứ nhiều lần đă hăng hái dùng bạo lực và những h́nh thức bất khoan dung để bảo vệ chân lư hoặc để danh Chúa được cả sáng hơn. Trên lư thuyết, hiện nay Giáo hội Công giáo đă chọn thái độ khoan dung làm đường lối ứng xử với những tôn giáo và học thuyết khác biệt với giáo huấn chính thức của ḿnh. Nếu trước đây hàng giáo phẩm thường lấy việc kết án và vạ tuyệt thông làm lợi khí để bảo vệ truyền thống đức tin, công đồng Vatican II công khai từ chối xử dụng biện pháp đó, ngay đối với những học thuyết mà Giáo hội không thể chấp nhận. Chúng ta không thể không nhắc tới bản văn căn bản về tự do tôn giáo của Công đồng.
Tuy nhiên, có lẽ đối với các tôn giáo độc thần thái độ khó hội nhập c̣n mang một lư do sâu thẳm và nhiều khê hơn: xác tín và đ̣i hỏi thay đổi triệt để của nội dung đức tin. Không phải vô căn cứ khi Đỗ Mạnh Tri nhận định: Nếu bỏ một bên những điều kiện xă hội, lịch sử, tâm lư, phải công nhận Kitô giáo, và nói rộng ra: ba tôn giáo độc thần (Do Thái giáo, Hồi giáo, Kitô giáo) rất khó dung ḥa. Ba tôn giáo này có thể có thái độ rất cởi mở và tôn trọng đối với các tôn giáo khác, nhưng chính cốt lơi niềm tin của ba tôn giáo ấy có cái ǵ như một đ̣i hỏi tuyệt đối làm cho tín đồ dù có ḥa với các tín ngưỡng khác mấy đi nữa cũng vẫn bất đồng.
Cụ thể, người Công giáo Việt Nam vẫn hoàn toàn là người Việt Nam, không thể bật rễ. Nhưng đức tin Kitô giáo khi thấm nhuần con người Việt Nam, theo thiển ư của tôi, thay đổi con người này đến tận gốc rễ. Đó là điều khó hiểu. Và v́ thế có người không muốn hiểu, hay hiểu lầm. Đối với người Việt Nam, đă là dân Á đông lại là dân từng bị trị, cách đánh giá một tôn giáo du nhập từ Tây phương cùng một trật với sự bành trướng của Tây phương về mọi phương diện, hiển nhiên có nhiều mắc míu. Điều tự nó đă khó hiểu lại thành khó hiểu hơn[6].
Xem như vậy, phải chăng bất khoan dung có ǵ nối kết với nghịch lư và nghịch thường của chính thập giá, ngôn từ và cuộc đời Đức Kitô? Nếu như hạt thóc gieo vào ḷng đất mà không chết đi, không thể đâm mầm nẩy lộc, cũng thế, các cá nhân và tập thể có thể trở thành môn đệ đích thực của Đức Kitô mà không thanh luyện, hoán cải và thay đổi đến tận gốc rễ?
4)- Từ bao dung đến tự do tôn giáo.
Trên b́nh diện cứu độ, thái độ khoan dung và đối thoại c̣n mang một ư nghĩa thâm sâu hơn: đây là tiến tŕnh đồng hành kiếm t́m chân lư, với hy vọng hiểu được đôi chút cuộc đối thoại nhiệm mầu yêu thương giữa Đấng Tối Cao với con người suốt dọc lịch sử nhân loại. Công đồng Vatican II khẳng định chương tŕnh cứu độ phổ quát của Thiên Chúa[7] và mời gọi các tín hữu cố gắng khám phá hạt giống Ngôi Lời mà Thánh Linh không những đă gieo vào tâm hồn con người mà c̣n nơi lễ nghi và văn hóa của các dân tộc[8].
Theo Công đồng để cuộc đối thoại được hữu hiệu, cần có can đảm nh́n nhận những điểm đồng quy và những điểm khác biệt. Trong Tuyên ngôn về các Tôn giáo, Công đồng nhận thấy nhiều điểm tương đồng giữa các TG, chẳng hạn như nỗ lực trả lời cho các khắc khoải của tâm hồn khi đối diện với những vấn đề sinh, bệnh, lăo, tử (số 2); đồng thời Công đồng cũng cho thấy mỗi TG đă cố gắng đưa ra những giải pháp và câu trả lời riêng.
Sau khi đă chân thành nh́n nhận sự khác biệt, hai bên sẽ t́m hiểu nguồn gốc của sự khác biệt, lắm lần tùy thuộc vào cách thức diễn tả của mỗi nền văn hóa. Chủ đích của đối thoại là tiến đến điểm đồng quy, vượt lên trên những sự khác biệt. Dù sao, người kitô hữu cần ư thức về chân lư của đức tin. Đây không phải là một thứ chân lư thuộc loại siêu h́nh, mà là ân sủng Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Đức Kitô. Chính nhờ Đức Kitô mà chúng ta biết rơ phẩm giá của con người cũng như biết đánh giá tác động của Chân lư và Thánh Linh hiện diện nơi các Tôn Giáo khác.
Đặc biệt trong tuyên ngôn về Tự do tín ngưỡng, Công đồng đă can đảm làm một cuộc chuyển đổi năo trạng: bước từ t́nh trạng chấp nhận, chịu đựng có tính cách tiêu cực (tolerantia religiosa) sang thái độ tôn trọng tự do tín ngưỡng (libertas religiosa). Theo Công đồng đây là một quyền căn bản của con người, nằm ở chỗ con người không bị lệ thuộc vào bất cứ một áp lực nào của cá nhân, đoàn thể xă hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác[9]. Tự do tín ngưỡng này cũng được hiểu như tự do hành động theo lương tâm. Mặc dù lương tâm có thể sai lầm và cũng chẳng hề có tự do lương tâm tuyệt đối, nhưng không ai bị cưỡng bách theo một tôn giáo trái với xác tín và lương tâm của ḿnh.
Tiếp nối và khai triển đường hướng của Vatican II, đức Gioan Phaolô II đề cao hoạt động của Thánh linh nơi các tôn giáo. Thánh linh dun dủi, thanh tẩy và cứu vớt không những từng cá nhân mà cả những nền văn hóa và các tôn giáo nữa: Thánh linh trao ban cho mọi người, theo một cách thế mà chỉ duy Thiên Chúa biết được, khả năng được tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh (...). Sự hiện diện và tác động của Thánh linh không chỉ liên hệ đến mỗi cá nhân, mà c̣n liên hệ đến xă hội và lịch sử, các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo (...). Chính Thánh linh đă gieo mầm Ngôi Lời, tiềm ẩn nơi các lễ nghi và văn hóa, và làm cho nó triển nở trong Đức Kitô[10].
Mục đích của đối thọai liên tôn là cùng nhau khám phá và làm triển nở những yếu tố chân lư và ân sủng do sự hiện diện tiềm ẩn của Thiên Chúa nơi mọi tôn giáo[11]. Đức Gioan Phaolô II coi đây như một bước chuẩn bị để thực hiện chương tŕnh cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, một bước đi trong t́nh huynh đệ, qua đó chúng ta cùng dẫn dắt nhau tiến về một mục tiêu siêu việt mà Ngài chuẩn bị cho chúng ta[12].
Chính trong viễn tượng cứu độ đó, ngỏ lời với các thành viên của Hội Đồng Giáo ḥang về Đối thọai Liên tôn, đức Gioan Phaolô II qủa quyết : Việc đối thoại liên tôn, trên một mức độ sâu xa hơn, luôn luôn là cuộc đối thoại cứu độ, bởi v́ chủ tâm của nó là khám phá, làm sáng tỏ và hiểu rơ hơn cuộc đối thoại vĩnh cửu mà Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện với nhân loại[13].
Tài liệu Làm việc của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu nh́n nhận hoạt động mạnh mẽ và đa dạng của Thánh linh nơi các tôn giáo và văn hóa Á châu. Có thể coi các tôn giáo truyền thống tại lục địa mênh mông này như con những đường Thiên Chúa dùng để dẫn đưa đại đa số các dân tộc Á châu tới đến với Ngài và đây cũng là cách thế Ngài dùng để gặp gỡ họ[14].
Tông thư Giáo hội tại Á châu tiếp tục đề cao vai tṛ của Thánh linh trong lịch sử cứu độ và trong ḷng các tôn giáo Á châu: Các Nghị phụ của Thượng Hội đồng đề cập đến hành động đa dạng và đổi thay của Thánh linh. Ngài liên tục gieo những mầm chân lư giữa các dân tộc, tôn giáo, văn hóa và triết học. Điều này có nghĩa là các tôn giáo, văn hóa và triết học nói trên có khả năng giúp dân chúng, cá nhân cũng như tập thể, tránh điều dữ và phục vụ sự sống, cũng như tất cả những ǵ là thiện hảo... Chính Thánh linh nâng đỡ dân chúng để họ t́m cách hiểu và chấp nhận nhau. Do đó Thượng Hội đồng có lư khi quan niệm Thần khí của Chúa như tác giả đầu tiên của cuộc đối thoại giữa Hội thánh với tất cả các dân tộc, văn hóa và tôn giáo[15].
4- Đối thoại và giữ vững căn tính.
Một vấn đề quan trọng khác đang được đặt ra: làm sao dung ḥa thái độ đối thoại với việc giữ vững căn tính của ḿnh? Đặc biệt trên b́nh diện niềm tin, rao giảng Tin Mừng và dấn thân vào cuộc đối thọai liên tôn phải chăng là hai điều mâu thuẫn, đối kháng và loại trừ nhau? Đâu là mối tương quan giữa đối thọai liên tôn và sứ vụ rao giảng Tin Mừng?
Một số người đồng hóa một cách sai lầm đối thọai với thái độ ba phải hay một thứ tổng hợp bát nháo (syncrétisme). H́nh như kinh nghiệm lịch sử làm họ lo sợ tính toàn trị và thái độ bất bao dung, nếu không muốn nói là cuồng tín, của nhiều con chiên ngoan đạo. Chính v́ vậy, họ nghĩ rằng không thể có đối thoại đích thực nếu không sẵn sàng từ bỏ xác tín riêng và yêu sách nội tại của niềm tin tôn giáo.
Áp đặt quan điểm chính trị và niềm tin tôn giáo trên tha nhân đă là một thực tế đau ḷng và vẫn là một nguy cơ thường xuyên cho phong trào đối thoại hôm nay. Nhưng không thể v́ đó mà có thể chấp nhận chủ trương thỏa hiệp bát nháo. Làm như vậy là không tôn trọng sự khác biệt của người và thiếu chân thành với chính ḿnh. Thật vậy, trong lănh vực tư tưởng và niềm tin tôn giáo không thể chấp nhận thái độ ba phải, xuề x̣a, dễ dăi, chín bỏ làm mười.
Đối thoại đích thực luôn đ̣i hỏi làm sao tiếp nhận ư kiến của người, tôn trọng những nét riêng biệt của họ, mà đồng thời vẫn không đánh mất căn tính của ḿnh. Nó đ̣i hỏi cả hai bên phải ư thức rơ rệt căn tính và bản sắc của ḿnh cũng như của người. Albert Camus đă nhận định sâu sắc: Thái độ giả dối cũng như im lặng đều đối nghịch với đối thoại. Chỉ có đối thoại đích thực giữa những người chân thành và nói sự thật. Không thể có đối thoại đích thực với người, mà đồng thời lại đánh lẫn con đen hay tự lừa dối chính ḿnh.
Hiểu như vậy, có xác tín, lập trường và trân trọng giữ vững bản sắc của ḿnh không những không phải là chướng ngại, mà c̣n là điều kiện cần thiết để có thể đối thoại thực sự. Rất nhiều lần, những khác biệt giữa ta và người có thể giúp mở rộng tầm nh́n và phát triển căn tính. Paul Ricoeur dám nói: Để có thể là ḿnh, hăy đối thoại với người; nhưng để đối thoại với người, ḿnh phải là ḿnh.
Một cuộc đối thoại đích thực đ̣i hỏi phải đảm nhận đồng thời hai yếu tố có vẻ trái ngược, nhưng bổ túc nhau: giữ căn tính của ḿnh và tôn trọng quan điểm của người. Phải chăng đó là thái độ lương thiện trí thức? Người xưa cũng thường nói: quân tử ḥa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất ḥa.
Trong viễn tượng đó, để có thể thực hiện đúng đắn cuộc đối thoại giữa Kitô giáo với các tôn giáo khác, thiện chí mà thôi chưa đủ. Cần được chuẩn bị đầy đủ về trí thức, tâm linh và đạo đức và có một tấm ḷng rộng mở để đón nhận linh ứng của Thánh linh, bất cứ từ đâu đến và bất cứ do ai nói[16].
Về điểm này Đại sư Buddhadasa đă có những nhận định rất chí lư: Mang tinh thần đối thoại hoàn toàn không có nghĩa là ngây thơ tin tưởng hoặc làm cho người ta có cảm tưởng rằng ḿnh nghĩ là vị thế của đối phương tiên quyết đă ưu việt hơn ḿnh, bởi v́ nếu mỗi người đối thoại hăm hở bênh vực quan điểm của đối phương th́ cuối cùng ai sẽ đối thoại với ai đây? Mỗi người tham gia đối thoại cần phải đào sâu không những kiến thức của ḿnh về Đạo của người, mà cả kiến thức về lư thuyết của Đạo ḿnh nữa[17]
Đây cũng là vấn đề hội nhập văn hóa với hai chiều hỗ tương: một đàng đức tin phải được diễn tả bằng những giá trị văn hóa của mỗi dân tộc; đàng khác nhiệm vụ của các tín hữu là cố gắng làm sao để giá trị của Tin Mừng thấm nhập và soi sáng sinh hoạt văn hóa. Tiến tŕnh này là một tiến tŕnh song đôi: Yêu sách hội nhập đ̣i hỏi phải phân tích, phê phán, đánh gía lại những h́nh thức và cách thế tŕnh bày ḷng tin mang nặng sắc thái văn hóa Tây phương và có thể làm lu mờ niềm tin đích thực. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải can đảm làm một cuộc vượt qua và thăng hóa dưới ánh sáng của Tin Mừng, để lột bỏ những ǵ tiêu cực, dính dấp tội lỗi nơi mỗi văn hóa...
5. Thách đố của đối thoại liên tôn.
Đại sư Buddhadasa thú nhận đối thoại là một công tác khó khăn và hao tổn: nó thực sự đưa đến những mối căng thẳng tâm lư cá nhân và tập thể. Trên b́nh diện cá nhân, đối thoại thực sự gây xáo trộn, bởi v́ nó bao hàm rằng người ta phải bảo vệ bản sắc của ḿnh, như đă thấy ở trên, đồng thời chấp nhận kẻ khác thực sự có thể dạy được cho ta một điều ǵ đó; điều này có nghĩa là chúng ta có thể phải thay đổi lối nh́n của chúng ta đối với một số điểm mà cho đến bây giờ chúng ta cho là đương nhiên. Đó là một thử thách có tác dụng thanh tẩy, có thể phong phú hóa việc tiếp thu những giá trị và giúp chúng ta đào sâu hơn ư nghĩa việc lệ thuộc tôn giáo của chính chúng ta.
Trên b́nh diện tập thể, phải chăng người tiếp xúc với những người khác tôn giáo và cố gắng t́m hiểu họ thường dễ bị những người trong cộng đoàn nghi ngờ là lạc giáo, thiếu niềm tin, bị cám dỗ t́m kiếm nơi khác điều họ nghĩ là không thể t́m gặp nơi tôn giáo của ḿnh, tóm lại không c̣n là một phật tử thuần thành hoặc một kitô hữu tốt nữa?[18].
Xưa cũng như nay, thách đố gay go nhất của đối thoại liên tôn là làm sao thực hiện tốt một cuộc đối thoại chân thành và đích thực, không có ư đồ áp đặt quan điểm của ḿnh nhưng đồng thời cũng không đánh mất căn tính của ḿnh và bổn phận rao giảng Tin Mừng. Nếu Giáo hội chủ trương đối thoại với các tôn giáo khác, phải chăng như vậy là gián tiếp chấp nhận không cần phải rao giảng Tin Mừng hay ít nhất đă từ bỏ vai tṛ cứu độ độc nhất của Đức KitoTrái lại, nếu tích cực rao giảng Tin Mừng và mời gọi đồng loại gia nhập Đạo Chúa, phải chăng như vậy là phủ giá trị của đối thoại liên tôn?
Một số văn kiện mới đây của Giáo hội như thông điệp Sứ vụ Cứu độ của đức Gioan Phaolô II, tài liệu Đối thoại và Rao giảng của Hội đồng Ṭa Thánh về Đối thọai liên tôn và Thánh bộ Truyền giáo, tài liệu Kitô giáo và các tôn giáo khác của Ủy ban thần học quốc tế, tài liệu của Thượng hội đồng Giám mục Á châu... đă trực tiếp trả lời cho những câu hỏi hóc búa nói trên. Nói một cách tổng quát, đối thọai và rao giảng Đức Kitô mỗi bên có sắc thái và nhiệm vụ riêng, nhưng đều cần thiết và liên kết chặt chẽ trong sứ vụ truyền giáo của Giáo hội nói chung và của mỗi Kitô hữu nói riêng. Từ chối rao giảng Tin Mừng là phản bội lư tưởng Kitô giáo và đánh mất căn tính của ḿnh. Nhưng trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo hôm nay, việc loan báo Tin Mừng nên được thực hiện qua dạng thức đối thọai liên tôn.
Tài liệu của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thọai liên tôn coi đây là hai yếu tố đích thực và căn bản của sứ vụ truyền bá Tin Mừng. Cả hai đều chính đáng và cần thiết. Chúng liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng không thay thế cho nhau: đối thoại liên tôn chân thật của người Kitô hữu phát xuất từ ước muốn làm cho người khác biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô mỗi ngày nhiều hơn, c̣n rao truyền Chúa Giêsu Kitô phải được thực hiện trong tinh thần đối thọai của Phúc âm. Hẳn nhiên, hai lănh vực này độc lập, nhưng, như kinh nghiệm cho thấy,... cùng một con người duy nhất có thể dấn thân một cách khác nhau vào lănh vực này hay lănh vực kia[19].
Nói tóm lại, tất cả Kitô hữu được mời gọi để thực thi sứ vụ truyền bá Phúc âm và trong thế giới hôm nay, đối thọai được coi là một phương thế hay nhất để thực thi sứ vụ đó. Động cơ thâm sâu của sứ vụ truyền bá Tin Mừng này nằm ở mầu nhiệm t́nh yêu. Chính t́nh yêu Thiên Chúa và tha nhân thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng cho anh em ta. Đây là một tặng vật t́nh yêu được trao tặng cho đồng loại, với tất cả sự chân thành, tôn trọng và yêu thương. Thực vậy, nếu thực sự yêu mến Chúa Kitô th́ không thể không chia sẻ t́nh yêu đó cho người khác[20].
Theo Tông thư Giáo hội tại Á châu, nh́n từ viễn quan Kitô giáo, đối thoại liên tôn không phải chỉ là cách thế giúp hiểu biết và làm giàu cho nhau, mà hơn nữa chính là thành phần của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo hội, một h́nh thức thực hiện trách vụ của Giáo hội đối với dân ngoại. Qua đối thoại liên tôn, người Kitô hữu làm cho người khác tin rằng ơn cứu độ viên măn đến từ Đức Kitô mà thôi và Hội thánh Kitô giáo là một phương thế b́nh thương của con đường cứu độ[21].
Dưới tác động của Thánh linh, mỗi tín hữu được mời gọi t́m những cách thế tốt nhất, hữu hiệu nhất và phù hợp với Tin Mừng nhất để trao tặng cho tha nhân những chứng từ của t́nh yêu Thiên Chúa và dẫn dắt nhau tiến về mục tiêu siêu việt. Đây là một hành tŕnh khó khăn, thăm thẳm và diệu vợi. Liệu có kết qủa ǵ không? Sẽ đi về đâu và cho đến bao giờ? Chẳng ai có thể trả lời thỏa đáng câu hỏi trên. Nói cho cùng, chỉ duy Thiên Chúa biết lúc nào và giai đoạn nào sẽ ḥan thành hành tŕnh thăm thẳm mà con người đang lần bước t́m gặp Ngài[22]. Nhiệm vụ của chúng ta trong lúc này là can đảm lên đường với tất cả nghị lực, xác tín và t́nh yêu.
[1] Thánh Tôma, Tổng luận thần học, II-II, q.10, a.11.
[2] Xem Đại Việt sử kư toàn thư, bản dịch của Cao Huy Giu, tập II, Nxb. Khoa học xă hội, Hà Nội, 1972.
[3] Thế Uyên, Nghĩ trong mùa xuân, Xuân Thu, California, 1992, tr.76-77.
[4] Bá Dương, Người Trung quốc xấu xí, bản dịch của Nguyễn Hồi Thủ, Văn Nghệ, California, 1999, tr.50 &72.
[5] Dẫn theo Nguyễn Ngọc Lan, Nhật kư 1988, Tin, Paris, 1993, tr. 265.
[6] Đỗ Mạnh Tri, Ngón tay và mặt trăng, Đường Sống, California, 1997, tr. 206.
[7] Xin coi Lumen Gentium, 2; Gaudium et Spes, 13; Ad Gentes, 3,11,15.
[8] Vatican II, Lumen Gentium, số 17.
[9] Vatican II, Tuyên ngôn tự do tôn giáo, số 2.
[10] Redemptoris Missio, 28.
[11] Vatican II, Ad Gentes, 9.
[12] Insegnamenti di Giovanni Paolo II, Vol.IX, 2 (1986), tr. 1262.
[13] Ibidem, vol. XV, 2 (1992), tr. 551.
[14] Xem Instrumentum Laboris, số 32.
[15] Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia, số 15.
[16] Thánh Thomas thường thích thú nhắc lại một câu nói đă trở thành thời danh: Omne verum, quocumque dicatur, Spiritu Sancto est.
[17] Đại sư Buddhadasa, Kitô giáo dưới mắt một Phật tử, Đnh Hướng tùng thư, 1996, tr.178.
[18] Ibidem, tr. 178- 179.
[19] Đối thọai và rao truyền, số 77.
[20] Ibidem, số 83.
[21] Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia, số 31.
[22] Ibidem, số 84.