P. Nguyễn Thái Hợp, O.P.
Trong một lá thơ gởi cho Tổng Giám mục Giáo phận Tours vào năm 1888, đức Giáo chủ Leo XIII đã diễn tả vai trò của người Giáo dân một cách ngắn gọn như sau: “Trên thực tế, ta nhận thấy rõ ràng và thường xuyên rằng đương nhiên có hai giai cấp trong Giáo Hội: chủ chăn và con chiên, nghĩa là những người lãnh đạo và những người thường dân. Giai cấp thứ nhất có nhiệm vụ dạy dỗ, cai quản và hướng dẫn cách sống cho mọi người, và đặt ra lề luật. Giai cấp thứ hai phải phục tùng giai cấp thứ nhất: vâng lời họ, thi hành lệnh của họ và tôn vinh họ.”
Trong một mức độ nào đó chúng ta có thể coi đây là quan điểm thần học chung được giảng dạy và thực hành từ cuối thế kỷ XI cho đến công đồng Vatican II. Ðoạn văn sau sau đây của đức Piô XII là một dẫn chứng điển hình: “Theo ý muốn của Thiên Chúa, các kitô hữu được chia làm hai bậc: giáo sĩ và giáo dân. Cũng do ý muốn của Ngài, trong Giáo hội có hai loại quyền bính: quyền thánh chức và quyền tài phán. Hơn nữa, do kế hoạch của Thiên Chúa, con người tiến tới thánh chức -nghĩa là được gia nhập vào phẩm trật giám mục, linh mục và thừa tác viên- do việc chịu chức thánh. Riêng quyền tài phán, chiếu theo luật Chúa, được trực tiếp trao phó cho đức Giáo hoàng và, cũng chiếu theo luật đó, cho cả các giám mục nữa, nhưng phải qua trung gian của vị kế nhiệm thánh Phêrô”
Nội dung bản văn diễn tả khá rõ rệt về mô hình Giáo hội kim tự tháp. Mở đầu bằng một phân biệt cơ bản giữa giáo sĩ với giáo dân: giáo sĩ nắm trọn mọi quyền hành, còn giáo dân chẳng có gì. Ngay trong hàng ngũ giáo sĩ, sự khác biệt nội tại được xác định tùy theo tương quan quyền bính. Với một mô hình Giáo hội như vậy, dĩ nhiên người giáo dân hoàn toàn bị quên lãng, không hề được nhắc đến. Thật sự cũng chẳng còn gì để nói thêm, vì người giáo dân bình thường chẳng những không có một vai trò và vị thế nào trong Giáo hội. Hồng y Gasquet kể giai thọai sau: ngày kia, một người dự tòng hỏi một linh mục công giáo về thế đứng của người giáo dân trong Giáo hội. Vị linh mục điềm nhiên trả lời: giáo dân có hai vị thế trong Giáo hội: thứ nhất, quỳ gối trước bàn thờ; thứ hai, ngồi trên ghế. Và Hồng y dí dỏm nói thêm: người ta đã quên một vai trò thứ ba: móc ví lấy tiền... để công đức cho nhà thờ1.
1- Sứ vụ khai mở của đức Gioan XXIII
Ðối với Giáo hội Công giáo, Công đồng Vatican 2 đã xuất hiện như một mùa xuân, sau những mùa đông giá lạnh và kéo dài nhiều thế kỷ. Sự đóng góp của Công đồng cho Giáo hội không phải chỉ nằm ở những bản văn, mà là đã khai mở một hướng đi mới và một cái nhìn khác về mối tương quan giữa Giáo hội với thế giới. Sở dĩ Giáo hội có thể dấn thân vào con đường canh tân và thích nghi này một phần lớn là nhờ cái nhìn lạc quan và ngôn sứ của đức Gioan XXIII.
Mối bận tâm chính của đức Gioan XXIII khi tuyên bố triệu tập Công đồng là làm sao loan báo “Nước Trời đang tới” một cách hữu hiệu cho con người và thời đại hôm nay2. Ngài cảm nhận một cách sâu xa nhu cầu khẩn thiết loại bỏ những cơ cấu và tập tục nhân loại đã chồng chất trên Giáo hội suốt dọc lịch sử, ngõ hầu hiện rõ khuôn mặt sáng ngời của Giáo hội Ðức Kitô và của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi. Ngài mời gọi các Kitô hữu can đảm và sáng suốt nhận diện “những dấu chỉ thời đại”, những dấu chỉ của hy vọng, bất chấp những khó khăn và mây mù hiện tại. Ngài ước mong Công đồng sẽ khai mở một mùa xuân mới, giúp Giáo hội lấy lại năng lực cố cựu để có thể canh tân và thích nghi3.
Ðức Gioan XXIII không thích thứ “ngôn ngữ gỗ” và lối diễn văn kinh điển, giáo điều. Ngài có những lối nói đầy biểu tượng và diễn tả rõ rệt điều mà Giáo hội phải đạt tới: một cộng đồng Dân Chúa để phục vụ Nước Trời và nhân loại. Lần kia, một ký giả hỏi về kỳ vọng của ngài nơi Công đồng. Ðức Gioan XXIII mỉm cười trả lời: “Tôi cũng chưa biết rõ”. Thế rồi, bằng một cử chỉ biểu tượng, ngài dẫn ông ta đến gần cửa sồ, mở toang cánh cửa và nói: “Ít nhất, thoáng khí hơn”.
Trong diễn văn khai mạc Công đồng ngày 11 tháng 10 năm 1962, Gioan XXIII cương quyết chống lại khuynh hướng tiêu cực và cái nhìn bi thảm hóa vấn đề của “các tiên tri bất tường, chuyên môn loan báo các thảm hoạ, dường như tận thế đã gần kề”. Trái lại, cần can đảm và sáng suốt khám phá sự hiện hiện nhiệm mầu của Ðấng Quan phòng giữa những thăng trầm và biến đổi của xã hội nhân loại. Chính vì vậy, mặc dù Giáo hội không ngừng chống lại những sai lầm. “Giáo hội đã thường xuyên khắt khe kết án chúng. Nhưng hôm nay, Hiền thê của Ðức Kitô thích xử dụng phương thuốc của lòng tư bi nhân hậu hơn là biện pháp hà khắc. Giáo hội nghĩ rằng sẽ trả lời tốt hơn cho những những nhu cầu của thời đại bằng cách làm sáng tỏ giá trị phong phú nơi đạo lý của mình hơn là kết án”4.
Khi bế mạc khoá họp thứ I của Công đồng, đức Gioan XXIII lại long trọng lặp lại ước vọng thâm sâu của Ngài: “Công đồng sẽ đích thực là “lễ Hiện Xuống mới”, làm cho Giáo hội được triển nở trong nguồn năng lực nội tại và mở rộng ra tất cả mọi lãnh vực của hoạt động nhân loại. Sẽ là một bước nhảy vọt của triều đại Ðức Kitô trong thế giới, một sự tái xác định theo cách thế luôn luôn cao hơn và có tính thuyết phục hơn Tin mừng cứu độ, sự loan báo rạng ngời về quyền tối thượng của Thiên Chúa, về tình huynh đệ nhân loại trong bác ái, về hứa hẹn hoà bình dưới trần thế cho những người thiện tâm”5.
Không bao lâu trước khi từ trần, chính đức Gioan XXIII đã đọc cho Hồng y Cicognani một bản văn trong đó đúc kết quan điểm và viễn quan của ngài: “Hôm nay hơn bao giờ hết và chắc chắn hơn trong những thế kỷ vừa qua, chúng ta được mời gọi để phục vụ con người xét như là con người, chứ không phải chỉ phục vụ người Công giáo, trong tương quan với nhân quyền chứ không phải chỉ duy quyền của Giáo hội Công giáo. Hoàn cảnh hiện tại, những đòi hỏi của năm mươi năm sau cùng này, việc đào sâu đạo lý đã dẫn đưa chúng ta đến những thực tại mới (...). Không phải Tin Mừng đã thay đổi; đúng hơn chính chúng ta bắt đầu hiểu Tin Mừng hơn. Ai đã sống lâu và đã phải đảm nhiệm từ đầu thế kỷ này những trách vụ mới của hoạt động xã hội bao trùm con người toàn diện, ai đã sống –như trong trường hợp của tôi, 20 năm bên Ðông, 8 năm tại Pháp, – và đã có thể đối chiếu những nền văn hoá và truyền thống khác biệt, biết rằng đã đến lúc để nhìn nhận “những dấu chỉ thời đại”, để nắm lấy cơ hội và để nhìn xa hơn”6.
2- Vai trò của giáo dân theo Vatican 2
Nhiều người coi bản văn này như lời di chúc và lời tâm huyết của đức Gioan XXIII. Ðây là một lời mời gọi các nghị phụ can đảm bước vào con đường canh tân và thích nghi, nhìn rõ hơn và nhìn xa hơn, vượt trên quyền lợi và tập tục của chính Giáo hội. Tuy nhiên, phải thành thật công nhận là lược đồ đầu tiên của Hiến chế tín lý về Giáo hội, do tiểu ban chuẩn bị Công đồng soạn thảo, hoàn toàn chưa phản ảnh thao thức, ước vọng và hướng đi mà đức Gioan XXIII đã vạch ra. Lược đồ này gồm 11 chương và một phụ trương. Nền tảng giáo hội học của nó vẫn là quan điểm Giáo hội như một xã hội hoàn bị và cấu trúc của nó là mô hình Giáo hội kim tự tháp. Về nội dung, không có tiêu chuẩn thần học rõ rệt, quá thiên về hộ giáo, nhấn mạnh quá đáng đến yếu tố pháp lý, đầy giáo sĩ tính, nhưng chiều kích huyền nhiệm quá mờ nhạt và hầu như gạt vai trò của người giáo dân ra ngoài.
a)- Ðề cao Cộng đồng Dân Chúa: Tại phiên họp khoáng đại của Công đồng, lược đồ này bị phê bình gắt gao và bị trả về cho uỷ ban soan thảo. Một lược đồ thứ hai ra đời và đệ trình các nghị phụ vào mùa hè năm 1963. Lược đồ mới rút gọn vào bốn chương: (I) Mầu nhiệm Giáo hội; (II) Cơ cấu phẩm trật Giáo hội, đặc biệt chức Giám mục; (III) Cộng đồng Dân Thiên Chúa, đặc biệt về giáo dân; (IV) Lời mời gọi nên thánh trong Giáo hội.
Lược đồ này được thảo luận sôi nổi trong kỳ họp thứ 2, kể từ ngày 1 đến 30 tháng 10 năm 1963. Hồng y L. Suenens, với tư cách là thành viên của Uỷ ban điều hành, đề nghị chia chương III thành hai phần: một phần mang tựa đề “Cộng đồng Dân Thiên Chúa” đề cập đến căn tính chung của tất cả các thành viên của Giáo hội và sẽ là chương II; còn phần kia mang tựa đề “Người Giáo dân” sẽ là chương IV, đề cập đến những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và tu sĩ. Như vậy đề tài “Cộng đồng Dân Thiên Chúa” được sát nhập vào lược đồ của Hiến chế tín lý về Giáo hội như một chương đặc biệt, nằm giữa chương I nói về huyền nhiệm của Giáo hội và các chương kế tiếp đề cập đến sự khác biệt chức vụ và phận vụ trong cùng một Giáo hội. Chương IV cũng được chia làm hai: lời mời gọi nên thánh (V) và các tu sĩ (VI). Sau cùng, các nghị phụ còn thêm một chương nói về đặc tính cánh chung của Giáo hội (VII) và một chương khác về Ðức trinh nữ Maria (VIII).
Tiếp thu những thành qủa nghiên cứu của khuynh hướng thần học cởi mở tiền Công đồng, hiến chế “Ánh sáng muôn dân” (Lumen Gentium) đã dành trọn chương I để trình bày về mầu nhiệm Giáo hội, chương II giới thiệu Giáo hội như “Cộng đồng Dân Chúa”, rồi các chương kế tiếp mới đề cập đến phẩm trật, chức vụ và các ơn gọi khác nhau trong Giáo hội. Như vậy, Công đồng đã tái khẳng định ý nghĩa sự hiệp thông trong niềm tin, không những bằng cách nhắc lại rằng Giáo hội là Dân Thiên Chúa được kết hợp trong một Giao ước mới và được ký kết bằng chính máu của Ðức Kitô. Ðiều độc đáo hơn nữa, mọi thành viên của cộng đồng Dân Chúa, được thiết lập nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Ðức Kitô, tất cả đều tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của chính Ðức Kitô7.
Bảy năm sau biến cố, trong diễn văn khai mạc Hội nghị thần học quốc tế về “Tương lai của Giáo hội”, do tạp chí Concilium tổ chức, Hồng y Suenens diễn tả tầm quan trọng của việc thay đổi này một cách thậm xưng như sau: “Người ta đã nói rằng khi đổi ngược chương, mà đầu tiên dự định là chương III, để đặt nó làm chương II, nghĩa là, khi trình bày trước hết toàn thể Giáo hội như Cộng đồng Dân Thiên Chúa, rồi tiếp theo đó mới đề cập đến hàng giáo phẩm như chức vụ phục vụ cộng đồng này, chúng tôi đã làm một cuộc cách mạng copernic. Tôi nghĩ rằng đúng như vậy: Sự đảo lộn này đặt ra cho chúng ta một hình thức cách mạng tâm trí liên tục, mà hậu quả của nó chúng ta vẫn chưa đo lường được”8.
Thay vì lấy lại những định nghĩa nặng nề tính chất pháp lý, Công đồng đã trình bày Giáo hội bằng nhiều hình ảnh biểu tượng, hàm chứa trong Thánh kinh và thánh truyền. Giáo hội được trình bày như một Cộng đồng Dân Thiên Chúa. Thành viên của cộng đồng là những người đã gia nhập vào Thân thể nhiệm mầu của Ðức Kitô nhờ bí tích Thánh tẩy. “Thực vậy, những ai tin nơi Ðức Kitô đều được tái sinh không phải bởi mầm có thể huỷ diệt, nhưng do mầm bất diệt nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống (xc. 1 Pr 1,23), không phải bởi xác thịt nhưng do nước và Thánh thần (xc. Ga 3,5-6) và trở thành “một giống nòi được thu phục, mà trước kia chưa phải là một dân, nay là dân của Thiên Chúa”(1Pr 2,9-10)9.
Dân tộc thiên sai này được Công đồng trình bày như một dân tộc đặc biệt “cóù Ðức Kitô làm Thủ lãnh (...), có phẩm giá và sự tự do hào hùng của con cái Chúa, mà nơi tâm hồn của họ Chúa Thánh Thần ngự như trong đền thờ. Luật của họ là giới răn yêu thương như chính Ðức Kitô đã yêu chúng ta (xc Ga 13,34). Sau cùng, cứu cánh của họ chính là Nước Thiên Chúa, một nước được Thiên Chúa khai mạc ở trần thế, và đang vươn tới sự triển nở trong khi đợi chờ đón nhận sự hoàn tất vào thời cánh chung, khi Ðức Kitô tái xuất hiện”10.
b)- Khác biệt giữa giáo sỹ với giáo dân. Hiến chế nhấn mạnh đến tích phổ quát, duy nhất và hiệp nhất của Dân tộc được tuyển chọn này, bởi vì “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa (Ep 4,5). Các chi thể cùng chung một phẩm giá vì được tái sinh trong Ðức Kitô, cùng một ân huệ được làm con, một lời mời gọi nên hoàn thiện, một ơn cứu độ, một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia. Trong Ðức Kitô và trong Giáo hội, không có bất bình đẳng vì lý do sắc tộc hay quốc gia, điều kiện xã hội hay phái tính (...). Vì thế, nếu như trong Giáo hội tất cả mọi người không đi trên cùng một con đường, nhưng tất cả đều được mời gọi nên thánh và tham dự cùng một niềm tin do sự công chính của Thiên Chúa. Ngay cả trường hợp, do ý muốn của Ðức Kitô, một số người được chọn lựa làm tiến sĩ, người phân phát các mầu nhiệm và mục tử đối với những người khác, tuy nhiên giữa tất cả mọi người vẫn có sự bình đẳng đích thực về phương diện phẩm giá cũng như hoạt động chung để xây dựng Nhiệm thể của Ðức Kitô”11.
Theo Công đồng, tất cả các Kitô hữu đều tham dự vào sứ vụ ngôn sứ, tư tế và vương gỉa của Ðức Kitô. Những khác biệt về thừa tác vụ hoàn toàn do nhu cầu của cộng đồng Dân Chúa và để phục vụ cộng đồng. Ðây là một trách vụ, nên đóng vai trò phụ thuộc nếu so sánh với ơn gọi căn bản làm Kitô hữu12. Chiều hướng thần học này đặt nổi tính bình đẳng về phẩm gía, căn tính và ơn gọi nền tảng của tất cả các kitô hữu trong thân thể mầu nhiệm của Ðức Kitô. Những khác biệt về chức vụ, nếp sốngï và ơn gọi thực sự chỉ có ý nghĩa trong viễn tượng phục vụ cộng đoàn Dân Chúa. Bởi vì “trong Giáo hội có những thừa tác vụ khác nhau nhưng cùng chung một sứ mạng. Ðức Kitô uỷ thác cho các Tông đồ và những người kế vị trách nhiệm giáo huấn, thánh hóa và quản trị nhân danh Ngài. Vì được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Ðức Kitô, giáo dân cũng đảm nhận trong Giáo hội và trong thế giới phần trách nhiệm của mình trong sứ vụ của toàn thể cộng đồng Dân Chúa”13.
Từ đó dĩ nhiên phải đặt lại mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ. Công đồng ước mong rằng “giáo dân trình bày với các mục tử những nhu cầu và nguyện vọng một cách tự do và tin cẩn theo tư cách con cái Thiên Chúa và anh em trong Ðức Kitô. Theo kiến thức khoa học, khả năng chuyên môn và uy tín trong lãnh vực của mình, giáo dân có thể và đôi khi phải đóng góp ý kiến cho hàng giáo phẩm trong những gì liên hệ đến thiện ích của Giáo hội”. Ngược lại, “các chủ chăn phải nhìn nhận và cổ võ phẩm giá cũng như trách nhiệm của giáo dân trong Giáo hội. Nên sẵn sàng đón nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, bổ nhiệm họ vào những chức vụ tín cẩn để phục phụ Giáo hội, dành cho họ sự tự do hành động và lãnh vực để hoạt động, hơn nữa nên khuyến khích họ đảm nhận những công tác theo sáng kiến riêng”14.
c)- Công đồng đặc biệt đề cao “tính trần theá” và sứ vụ dấn thân vào lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị của người giáo dân. Họ là những người tín hữu đang dấn thân vào những sinh hoạt trần thế với mọi người, như mọi người, trong tương giao nghề nghiệp, văn hóa, xã hội và bằng hữu. Mảnh đất nhân bản và sinh hoạt trần thế phải là môi trường riêng biệt, nơi người giáo dân thực hiện sứ mệnh làm người và lý tưởng kitô hữu của mình. Ðây chính là môi trường Thiên Chúa gọi họ sống lý tưởng Tin Mừng và bằng chính cuộc sống chứng tá của mình biến đổi cuộc đời từ bên trong, theo lý tưởng men trong bột. Họ phải sống giữa trần gian và dấn thân vào tất cả mọi sinh hoạt trần thế với ý hướng biến đổi và thánh hoá môi trường sống đó từ bên trong. Nói cách khác, “giáo dân được đặc biệt mời gọi giúp Giáo hội hiện diện và hoạt động trong tất cả những nơi và tất cả hoàn cảnh mà Giáo hội chỉ có thể trở thành muối trần gian nhờ sự trung gian của giáo dân”15.
Theo Công đồng những phận vụ và sinh hoạt trần thế, đặc biệt sinh hoạt chính trị, là lãnh vực riêng của giáo dân. Người giáo dân cần cố gắng làm sao để ánh sáng Tin Mừng thấm nhập thực tại trần thế này. Tuy nhiên, để dấn thân hữu hiệu vào môi trường đặc biệt này cần có niềm tin vững chắc, khả năng chuyên môn và phải tôn trọng qui luật riêng của mỗi ngành. “Giáo dân có thể mong đợi nơi các mục tử ánh sáng và sức mạnh tinh thần. Tuy nhiên đừng nghĩ rằng các chủ chăn có đủ thẩm quyền chuyên môn đến độ có thể cung cấp cho họ một giải pháp cụ thể và tức thời cho mọi vấn đề (...). Tốt hơn, chính giáo dân tự đảm nhận trách nhiệm của mình, dưới ánh sáng của đức khôn ngoan Kitô giáo và trong niềm trung thành với giáo huấn của Giáo hội”16.
Hiến chế về “Giáo hội trong thế giới hôm nay” đặc biệt lưu ý người giáo dân là trong lãnh vực sinh hoạt trần thế này nhiều khi những người tín hữu có cùng một niềm tin chân thành như nhau, nhưng rất có thể lại chọn lựa những giải pháp kinh tế và chính trị khác nhau. Không ai có thể lạm dụng danh nghĩa Kitô giáo hay uy quyền Thiên Chúa để biện minh cho tổ chức của mình. Trái lại, cần chân thành đối thoại với nhau để kiếm tìm một giải pháp lý tưởng hơn.
Các Nghị phụ của Công đồng đánh giá cao hoạt động tông đồ giáo dân, đến độ cho rằng nếu không có sự cộng tác của giáo dân thì hoạt động tông đồ của các vị chủ chăn thường cũng chẳng đặt tới kết quả mong muốn. Ðịa bàn giáo xứ được coi là mảnh đất thuận lợi nhất để người giáo dân thể hiện chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của mình. Thật vậy, “giáo xứ cống hiến một mô hình kiểu mẫu về tông đồ cộng đồng, bởi vì giáo xứ kết hợp những thành phấn nhân loại khác biệt thành một cộng đoàn duy nhất và sát nhập những thành phần này trong phổ quát tính của Giáo hội. Ước mong giáo dân có thói quen hoạt động tại giáo xứ trong sự cộng tác chặt chẽ với các linh mục, biết trình bày với cộng đoàn những vấn đề của mình, những vấn đề của thế giới và những gì liên quan đến việc cứu độ mọi người để cứu xét và giải quyết trong tinh thần tôn trọng ý kiến chung”17.
Tuy nhiên, dù sao giáo xứ cũng mới chỉ là một tế bào của giáo phận. Người giáo dân cần mở rộng nhãn giới và tầm hoạt động lên mức độ giáo phận, miền, quốc gia và hoàn cầu. Tất cả nhu cầu của Dân Thiên Chúa và công cuộc truyền giáo trên thế giới phải trở thành mối bận tâm chung. “Bởi vì các Kitô hữu có những đặc sủng khác nhau, cho nên phải cộng tác loan báo Tin Mừng, mỗi người tuỳ theo khả năng, phương tiện, đặc sủng và tác vụ. Tất cả mọi người, kẻ gieo cũng như người gặt, kẻ trồng cũng như người tưới (...), tất cả cùng đem hết tâm lực để xây dựng Giáo hội”18.
d)- Hai quan niệm về Giáo hội. Ở trên là một vài nét chấm phá về vai trò và sứ vụ của giáo dân theo viễn tượng “Giáo hội- hiệp thông”. Chiều hướng thần học cởi mở này đặt nổi chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của cộng đồng Dân Thiên Chúa, đồng thời đánh giá cao vai trò của người giáo dân trong sinh hoạt của Giáo hội. Tuy nhiên, trong hiến chế “Ánh sáng muôn dân” vẫn hiện diện một mô hình Giáo hội khác, nặng tính chất pháp lý, cơ cấu và phẩm trật. Hai quan niệm giáo hội học này nhiều khi xuất hiện trong cùng một bản văn, tiếp nối nhau, hoặc hơn nữa, sát bên nhau hay xen lẫn với nhau, mặc dù phát xuất từ hai nguồn và viễn tượng thần học khác nhau19.
Chính đức Hồng y L. Suenens cũng công nhận là mặc dù đã có một sự biến đổi nền tảng trong cấu trúc của hiến chế tín lý “Ánh sáng muôn dân”, nhưng vẫn chưa đạt tới sự đồng thuận về viễn tượng thần học. Bên cạnh một giáo hội học đề cao tính hiệp thông và vai trò của tất cả thành phần của cộng đồng Dân Thiên Chúa mà chúng ta vừa trình bày sơ lược, còn có một giáo hội học khác theo mô hình kim tự tháp và nặng tích cách pháp lý hơn: “Chương hai cho chúng ta một viễn quan của Giáo hội đầy năng động tính, lịch sử tính, hiện thực, cánh chung: cộng đoàn huynh đệ của các tín hữu chiếm vị trí ưu tiên. Cộng đồng này, dĩ nhiên được cấu trúc theo phẩm trật, biểu lộ trước tiên như một cộng đồng bí tích xây dựng trên thánh tẩy và thánh thể: một giáo hội học của hiệp thông. Trái lại, chương ba khởi đi từ quan điểm một Giáo hội bất biến hơn, pháp lý hơn và nặng tính chất “kim tự tháp” hơn là hiệp thông: đây là một giáo hội học đặt nặng yếu tố phẩm trật và cơ chế. Vatican 2 chưa đạt được sự kết hợp hài hoà giữa hai quan điểm Giáo hội – hiệp thông và Giáo hội – cơ chế. Và cuộc canh tân của Công đồng ... gặp trục trặc vì nó”20.
Thực vậy, trong một thời gian dài mô hình “Giáo hội – xã hội hoàn bị” đã trở thành quan niệm chủ đạo và chính thức của Giáo hội, nên dĩ nhiên không thể một sớm một chiều thay đổi ngay được. Nhiều nghị phụ cảm thấy hoang mang và do dự thực sự trước hai quan niệm giáo hội học này. Chính vì vậy chúng ta thấy vẫn tồn đọng một số lấn cấn, chắp vá và thiếu nhất quán. Trong chương IV về bản tính và sứ mạng của giáo dân, chẳng hạn, hiến chế tuyên bố: “Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả các Kitô hữu không có chức thánh và không thuộc Dòng tu được Giáo hội công nhận; nghĩa là những Kitô hữu được kết hiệp với Ðức Kitô nhờ phép Rửa, đã trở nên Dân Thiên Chúa và được tham dự theo cách thế riêng vào chứ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Ðức Kitô. Mỗi người theo điều kiện riêng, được mời gọi thực hiện sứ vụ đã trao phó cho toàn thể Kitô hữu trong Giáo hội và trong trần thế ”21.
3)- Cách thế tiếp thu, khai triển và áp dụng Vatican 2
a)- Ngày 25 tháng giêng năm 1959, khi công bố ý định triệu tập Công đồng Vatican 2, Giáo chủ Gioan XXIII cũng cho biết thêm quyết định canh tân bộ Giáo luật. Sau những năm tháng dài chuẩn bị và làm việc, bộ Giáo luật đó đã được ban hành ngày 25 tháng giêng năm 1983. Bộ Giáo luật này là một hình thức tiếp thu, khai triển và áp dụng đường hướng canh tân của Vatican 2 vào công cuộc đổi mới cơ cấu tổ chức của Giáo hội. Theo Giáo chủ Gioan Phaolo II, “bộ Giáo luật đã biểu lộ tinh thần của Công đồng không những qua nội dung mà ngay từ nguồn gốc. Thực vậy, trong các văn kiện của Công đồng, Giáo hội, bí tích cứu độ phổ quát22, được trình bày như cộng đồng Dân Thiên Chúa và cơ cấu phẩm trật của nó được xây dựng trên Giám mục đoàn hợp nhất với Thủ lãnh”. Ðức Giáo chủ coi bộ Giáo luật này như “một cố gắng lớn lao để chuyển dịch sang ngôn ngữ giáo luật quan điểm giáo hội học của Công đồng”. Tuy nhiên, ngài cũng nhìn nhận là “không thể nào chuyển dịch hoàn hoàn toàn hình ảnh của Giáo hội được Công đồng diễn tả sang ngôn ngữ giáo luật”23.
Bộ Giáo luật đã cố gắng cụ thể hoá và cơ cấu hoá quan niệm giáo hội học căn bản của Công đồng Giáo hội về cộng đồng Dân Thiên Chúa. Nhưng khác với hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, bộ Giáo luật phân biệt “tín hữu” với “giáo dân”. Các tín hữu được trình bày như là chủ thể của tất cả hệ thống Giáo luật: “Họ là những người, nhờ phép Rửa, được hiệp thân với Ðức Kitô, kết thành Dân Thiên Chúa và do đó được tham dự theo cách thế riêng vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Ðức Kitô” (Gl. 204).
Trong hàng ngũ tín hữu này, một số người có thánh chức và một số khác tận hiến cho Chúa và Giáo hội một cách đặc biệt qua việc tuyên giữ các lời khuynh Phúc âm. Những người còn lại được gọi là giáo dân (Gl. 207). Liền sau đó, Giáo luật điều 225-231 liệt kê những nghĩa vụ và quyền lợi sau đây: sứ vụ loan báo Tin Mừng, thấm nhuần và hoàn thiện trật tự trần thế với tinh thần Phúc âm, cố gắng xây dựng cộng đồng Dân Chúa qua hôn nhân và gia đình, các cha mẹ phải giáo dục con cái phù hợp với giáo huấn của Giáo hội. Các giáo dân xuất sắc, khôn ngoan và thanh liêm có thể được các chủ chăn mời cộng tác với tư cách chuyên viên hoặc cố vấn. Tất cả giáo dân có nghĩa vụ và quyền lợi học hỏi giáo, có thể đào sâu hơn nữa kiến thức tôn giáo tại Ðại học và các trung tâm chuyên biệt để lấy văn bằng. Khi hội đủ những điều kiện luật định có thể dạy thánh khoa, nam giáo dân có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, nhưng không được đòi trả lương. Các giáo dân có thể đảm nhận chức vụ chú giải, ca trưởng hoặc những công tác khác theo luật định. Khi nhu cầu Giáo hội đòi hỏi các giáo dân có thể cử hành phụng vụ Lời Chúa, chủ toạ các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ. Các giáo dân đã được cử vào công tác đặc biệt của Giáo hội có bổn phận trau dồi kiến thức và có quyền lãnh lương cũng như hưởng bảo hiểm theo luật định.
Theo tinh thần của Công đồng, bộ Giáo luật tái xác quyết phẩm giá và bình đẳng nền tảng giữa tất cả các tín hữu. Tất cả được mời gọi cộng tác với nhau để xây dựng thân thể Ðức Kitô, tuỳ theo điều kiện và ơn gọi riêng. Hình như Giáo luật muốn xác định một sự phân công rõ rệt hơn: trách nhiệm về trần thế thuộc giáo dân; trách nhiệm về hợp nhất Giáo hội và trách vụ nhắc nhở những giá trị viễn lai thuộc về những người sống theo các lời khuyên Phúc âm.
Bộ Giáo luật trân trọng việc tham dự của người giáo dân vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương gỉa của Ðức Kitô. Giáo luật điều 759 cố gắng thể hiện việc tham dự của giáo dân vào sứ vụ ngôn sứ: “Do phép Rửa và Thêm sức, giáo dân là chứng nhân loan báo Tin Mừng bằng ngôn ngữ và đời sống Kitô hữu gương mẫu. Họ cũng có thể được mời cộng tác với Giám mục và Linh mục trong việc thi hành tác vụ Lời Chúa”.
Ðối với chức vụ tư tế, điều 835, 4 nói rõ: “Trong nhiệm vụ thánh hoá, các tín hữu có phần vụ riêng: họ tham dự một cách tích cực, theo cách thế riêng của mình, vào việc cử hành phụng vụ, nhất là cử hành Thánh thể. Các cha mẹ tham dự một cách đặc biệt vào nhiệm vụ này, bằng cách thấm nhuần tinh thần Kitô giáo vào đời sống hôn nhân và cố gắng cung cấp cho con cái nền giáo dục Kitô giáo”.
Rất tiếc là không có một khoản Giáo luật riêng nào đề cập đến sự tham dự của giáo dân vào chức vụ vương giả của Ðức Kitô, mà hiến chế “Ánh sáng muôn dân” đặc biệt trình bày ở số 36 & 37. Ðây là lãnh vực điều hành, quản trị và quyết định, nghĩa là lãnh vực của quyền bính, tổ chức, chọn lựa và hiệu năng. Sự thiếu vắng này mang theo những hậu quả dĩ nhiên của nó đối với vai trò của giáo dân trong Giáo hội.
Một sự thiếu vắng quan trọng khác đó là vấn đề đặc sủng. Không những do bí tích Thánh tẩy, giáo dân tham dự vào ba sứ vụ đặc biệt Ðức Kitô, mà hơn nữa còn có khả năng lãnh nhận một đặc sủng (charisme). Vắng bóng chiều kích đặc sủng này, vai trò và sứ vụ của giáo dân trong Giáo hội dĩ nhiên bị giới hạn, và hơn nữa què quặt. Công đồng nhiều lần nhắc đến sự hiện diện của các đặc sủng trong Giáo hội và không ngần ngại công nhận việc thi hành các đặc sủng là một trong số các quyền của người tín hữu24.
Nhìn tổng quát chúng ta thấy hai quan niệm giáo hội học đều hiện diện trong bộ Giáo luật, nhưng mối tương quan giữa chúng không luôn luôn chặt chẽ và nhất quán. Nếu phân tích kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy mô hình giáo hội học nặng tính pháp lý, phẩm trật và cơ cấu vẫn đóng vai trò chủ động. Bóng mờ của quan điểm “Giáo hội – xã hội hoàn bị” vẫn hiện diện và trở thành hạ tầng cơ sở cho 4 quyển (I,V,VI &VII) của bộ Giáo luật25.
b)- Tháng 10 năm 1987, một Thượng hội đồng Giám mục đã được triệu tập tại Roma để thảo luận về “ơn gọi và sứ vụ của giáo dân trong Giáo hội và giữa trần thế ”. Kết qủa của Thượng hội đồng này đã được đức Gioan Phaolô II đúc kết trong tông thư “Người tín hữu giáo dân ”(1988).
Tông thư nhấn mạnh đến “tính cách trần thế của người giáo dân”, không những dưới khía cạnh xã hội, mà còn theo quan điểm thần học và chiều kích cứu độ. Thật vậy, “ơn gọi nên thánh đòi hỏi cuộc sống theo Thánh linh phải được thể hiện một cách đặc biệt trong hành động hội nhập của họ vào thực tại trần thế và trong việc tham dự vào hoạt động trần thế. Chính thánh Phaolo căn dặn chúng ta: “Dù anh em nói gì, dù anh em làm gì thì hãy làm và nói nhân danh Ðức Giêsu và nhờ Ngài mà cảm tạ Thiên Chúa Cha”. Áp dụng lời của thánh Tông đồ vào trường hợp giáo dân, Công đồng xác quyết một cách mạnh mẽ: “dù việc săn sóc gia đình hay những công việc trần thế cũng không được xa lạ với linh đạo của họ”26. Tiếp nối ý tưởng đó, Thượng hội đồng Giám mục tuyên bố: “Giáo dân phải tự thánh hóa trong cuộc sống hàng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội. Ðể đáp lại ơn gọi của mình, người giáo dân phải xem đời sống thường nhật như một cơ hội kết hiệp với Chúa và thực hiện ý muốn của Ngài, như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa trong Ðức Kitô”27.
Theo tinh thần của Vatican 2, Tông thư đặc biệt đề cao sự hiện diện của Ơn đoàn sủng, phát xuất từ Chúa Thánh thần, ngõ hầu xây dựng Giáo hội. “Chính trong thời đại chúng ta, chúng ta nhận thấy đó đây phát triển những ơn đoàn sủng nơi người giáo dân nam cũng như nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng các người khác cũng được tham dự và được duy trì qua thời gian như một gia sản sống động, quý báu để tạo nên mối liên hệ thiêng liêng đặc biệt giữa nhiều người”28.
Theo Tông thư đối diện với thái độ lãnh đạm tôn giáo và hiện tượng giải trừ Kitô giáo, cần đổi mới cách thế rao giảng Tin Mừng và nhất là phải làm sao động viên người giáo dân tích cực tham gia vào công cuộc rao giảng Tin mừng. Do vị thế đặc biệt của mình, người giáo dân có tư cách và thế giá để chứng tỏ cho mọi người biết là chỉ duy đức tin mới có câu trả lời đúng đắn cho các vấn đề và cho niềm hy vọng mà mọi người chỉ nhìn thấy lờ mờ nhìn thấy và đang chờ đợi. “Vai trò của người giáo dân là kiến tạo những cộng đoàn niềm tin, không phải chỉ bằng cách tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm vào đời sống cộng đồng (…...), mà còn phải hăng say làm việc tông đồ cho những người chưa có đức tin hoặc không sống theo niềm tin, mà họ đã lãnh nhận trong phép thánh tẩy”.
Vấn đề chuyển đạt gía trị Tin Mừng cho giới trẻ được coi là một sứ vụ khẩn trương và nhiêu khê, đòi hỏi phải đầu tư nhiều tim óc, thời giờ, sức lực và sự cộng tác của tất cả các thành phần Dân Chúa, đặc biệt của người giáo dân. Thượng hội đồng biết ơn các giáo lý viên, nhìn nhận “vai trò của họ rất có giá trị trong việc làm cho cộng đoàn tín hữu thêm sức sống”. Qua phép thánh tẩy các phụ huynh công giáo cũng phải trở thành những giáo lý viên bất khả thay thế cho con cái29.
Ngoài ra còn có những vấn đề tông đồ mục vụ quan trọng khác như việc đem đạo vào đời, thăng tiến phẩm gía con người, tranh đấu cho công lý và hòa bình, đối thoại với các tôn giáo khác. Theo Tông thư, chính các giáo dân, bằng gương sáng và hoạt động, có thể cải thiện mối tương giao giữa Giáo hội với các tín đồ thuộc các tôn giáo bạn. Công tác này rất quan trọng vì nhờ đó tín đồ các tôn giáo biết yêu thương và kính trọng nhau, hay ít nhất làm giảm thiểu thiên kiến giữa tín đồ các đạo, đồng thời cổ võ sự hiệp nhất và tình bằng hữu giữa các dân tộc30.
Giáo chủ Gioan Phaolô II công nhận vai trò rất quan trọng của giáo dân trong Giáo hội và nhìn nhận rằng nếu thiếu sự đóng góp tích cực của giáo dân, Giáo hội không thể chu toàn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho nhân loại hôm nay. “Nhưng để có thể thực hiện được điều đó trước tiên người giáo dân cần biết vượt qua nơi chính mình sự đứt quãng giữa Tin Mừng và đời sống, bằng cách tạo nên trong hoạt động thường nhật của họ ở gia đình, tại nơi làm việc, ngoài xã hội, sự thống nhất của một đời sống tìm gặp trong Tin Mừng nguồn hứng cảm và sức mạnh cho việc thực hiện viên mãn”31.
Ðể người giáo dân có thể khám phá ơn gọi và sống đúng đắn sứ mệnh của mình, việc đào tạo toàn diện đời sống Kitô hữu trở thành một nhu cầu cấp bách. Tông thư qủa quyết: “Chắc chắn việc huấn luyện thiêng liêng phải chiếm một vị trí ưu tiên trong cuộc sống của mỗi người, bởi vì mỗi người được kêu gọi để không ngừng lớn lên trong tình thân mật với Ðức Giêsu-Kitô, trong sự hòa hợp với ý muốn của Chúa Cha, trong việc tận tụy phục vụ anh em, trong bác ái và công bình”.
Ðồng thời, do những thách đố của cảnh thời đại, “việc huấn luyện giáo lý cho các tín hữu mỗi ngày một khẩn thiết hơn, không những vì sự năng động tự nhiên thúc đẩy việc đào sâu đức tin, nhưng còn do nhu cầu phải “chứng thực niềm tin” mà họ hằng ấp ủ khi đối diện với thế giới cũng như các vấn đề nghiêm trọng và phức tạp của thời đại. Do đó, một hoạt động huấn giáo có hệ thống, thích hợp với lứa tuổi và với những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống, một sự thăng tiến văn hóa theo tinh thần kitô-giáo cách cương quyết hơn, đượcc coi là tuyệt đối cần thiết, để có thể trả lời cho những vấn đề muôn thuở cũng như những vấn đề mới đang làm cho con người và vũ trụ hiện nay giao động.
Ðặc biệt vấn đề tối ư cần thiết là làm sao cho giáo dân, nhất là những người dấn thân, dưới những hình thức khác nhau, vào lãnh vực xã hội hoặc chính trị, hiểu biết chính xác hơn về giáo huấn xã hội của Giáo hội, như các Nghị phụ của Thượng Hội Dồng đã nhiều lần yêu cầu qua các bài phát biểu”32.
c)- Thượng Hội Ðồng Giám mục Á châu cũng công khai nhìn nhận sứ mệnh của giáo dân trong Giáo hội hôm nay. Trong “Sứ điệp” gởi cộng đòan Dân Chúa, các giám mục Á châu khẳng định: “Giáo dân có một vai trò quan trọng trong Giáo hội ở ngàn năm thứ ba. Có nhiều dấu hiệu chứng tỏ Chúa Thánh Linh đang chuẩn bị để giáo dân giữ một vai trò ngày càng quan trọng trong Ngàn Năm thứ ba, Ngàn năm có thể gọi là kỷ nguyên của giáo dân. Trong số các dấu hiệu ấy, người ta ghi nhận sự dấn thân của giáo dân trong công cuộc truyền giáo, việc tham gia vào sinh hoạt của Giáo hội và tích cực hăng hái tham dự các cộng đòan Kitô nền tảng. Những chương trình canh tân, chương trình dạy giáo lý và các cơ cấu giáo dục Công giáo được mời gọi giữ một vai trò quyết định trong việc đào tạo giáo dân biết thi hành sứ mệnh của mình. Ðể giáo dân có khả năng họat động biến đổi các cơ cấu xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế trong thế giới hôm nay, chúng ta phải chuyển thông cho họ một kiến thức đầy đủ về giáo huấn xã hội Công giáo và giáo huấn của Giáo hội về các vấn đề luân lý đạo đức”33.
Có rất nhiều thách đố đang đặt ra cho Giáo hội Công giáo tại Á châu hay gốc Á châu. Một trong những thách đố quan trọng đó là làm sao trong thiên niên kỷ thứ ba này có thể đặt nổi tính Á châu nơi niềm tin Kitô giáo. Một số người lấy làm tiếc là Giáo hội Công giáo vẫn tiếp tục là Giáo hội tại Á châu, mà chưa thể hiện được những nét độc sáng cần thiết của một Giáo hội của Á châu và cho Á châu.
Mặc dù chưa nói lên và đưa ra những chỉ dẫn cần thiết cho hình ảnh một “Giáo hội của Á châu”, Tông huấn “Giáo hội tại Á châu” đã liệt kê một số giá trị văn hóa và tôn giáo được coi là gia tài hay hồn của Á châu: “Thích trầm lặng và chiêm niệm, giản dị và hài hòa, siêu thoát, bất bạo động, cần cù lao động, có kỷ luật, sống thanh đạm, khao khát học hỏi và truy tầm minh triết (...), tôn trọng sự sống, từ bi với mọi loài, gần gũi thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính những người cao niên và tổ tiên, có ý thức cao về tinh thần cộng đồng”. Theo Tông thư, tất cả những yếu tố đó biểu lộ “chiều hướng tâm linh bẩm sinh và cảm nghiệm luân lý khôn ngoan trong tâm hồn người Á châu. Ðây là trung tâm điểm dựa trên đó hình thành ý thức ngày càng lớn mạnh về “tính á châu”. Ý nghĩa của “tính Á châu” này được nhận thức và khẳng định một cách tốt nhất không phải bằng sự đối chất và đối nghịch, mà trong tinh thần bổ sung và hòa hợp. Chính trong tinh thần bổ sung và hòa hợp này mà Giáo hội có thể công bố Tin Mừng một cách vừa trung thành với truyền thống và vừa phù hợp với hồn Á châu”.
Giáo hội Việt Nam vẫn mang tiếng là vọng ngoại. Ðúng sai và thực hư đến đâu? Dù sao, thiết nghĩ để trả lời cho thách đố nói trên, ưu tiên hàng đầu của chúng ta trong lúc này là xác định “tính Á châu” nói trên, rồi triển khai nó trong cuộc sống và biểu lộ qua hình thức sống đạo, cũng như truyền đạo. Có như vậy Kitô giáo mới có thể “giới thiệu mầu nhiệm Ðức Kitô cho các dân tộc Á châu theo mô hình văn hóa và cách thế suy tư của các dân tộc này.
Một điều đáng ghi nhớ là Tông huấn công khai nhìn nhận là “tại nhiều nước Á châu, người giáo dân đang phục vụ như những thừa sai đích thực, tiếp xúc với các anh chị em Á châu chưa bao giờ có dịp gặp gỡ các giáo sĩ và tu sĩ”. Tông huấn yêu cầu các Chủ chăn làm sao “huấn luyện các giáo dân trở nên người rao truyền Tin Mừng, có khả năng đối diện với những thách đố của thế giới hôm nay”. Và Tông huấn nhắc lại ước vọng thâm sâu của các Nghị phụ của Thượng Hội Ðồng: “phải làm sao để Giáo hội trở thành một Giáo hội mà mọi người đều tham gia và trong đó không ai cảm thấy mình bị loại trừ”34.
4)- Thao thức và trăn trở.
a)- Khi đề cao ơn gọi làm người tín hữu và gía trị của bí tích thánh tẩy, công đồng chính thức nhìn nhận tính liên đới và vai trò riêng biệt của mỗi thành phần Dân Chúa : tất cả các kitô hữu đều “bình đẳng trong sự công chính của đức Kitô” và đồng trách nhiệm trước sứ vụ rao giảng Lời Chúa. Ðức Phaolô VI thổ lộ : “Xưa kia giáo phẩm nắm trọn trách nhiệm, cũng như nghĩa vụ thi hành việc thánh hóa và rao giảng Tin Mừng, còn giáo dân thì chỉ có việc giữa đạo cho ngoan, bảo sao nghe vậy. Trong nền văn hóa hiện nay, và đây là một dấu hiệu tích cực, người giáo dân đã ý thức về vai trò của mình. Họ hăng hái lên tiếng : cả tôi nữa, tôi phải làm một cái gì, tôi không muốn là dụng cụ thụ động và vô ý thức”35. Và công đồng Vatican 2 đã long tr5ong đề cao vai trò và sứ vụ của giáo dân.
Bốn mươi năm sau nhìn lại, nhiều xác quyết trong các văn kiện của công đồng về cộng đồng Dân Chúa, về ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân ... có lẽ vẫn nằm yên trên bình diện lý thuyết. Chức vụ “tư tế chung” của tất cả các tín hữu, chẳng hạn, có giá trị gì và trong thực tế phải thực hiện như thế nào ? Ðâu là tương quan của nó với chức vụ tư tế thừa tác của các linh mục? Rồi, sứ vụ “vương giả” cũng như vai trò “chủ động” của giáo dân phải được thể hiện như thế nào trong đời thường và trong sinh hoạt giáo xứ ?
Không ai có thể phủ nhận là Công đồng đã khai mở một hướng đi mới và tạo cơ hội để giáo dân đảm nhận sứ vụ của mình trong Giáo hội và giữa lòng đời. Suốt bốn mươi năm qua, tại nhiều nơi trên thế giới, giáo dân đã bắt đầu thực hiện sứ vụ ngôn sứ, tư tế và vương gỉa của mình, bằng nhiều cách thế và dưới nhiều dạng thức khác nhau. Tại một vài nơi, khi vắng bóng linh mục, chính người giáo dân điều khiển việc cử hành phụng vụ ngày Chúa Nhật, làm thừa tác Thánh thể, thừa tác viên bí tích thánh tẩy, hôn phối, tuyên úy bệnh viện, nhà tù, giáo lý viên, thành viên Hội đồng Mục vụ, Hội đồng kinh tế, Chưởng ấn tại các giáo phận, v.v. Phải chăng, trong một mức độ nào đó, những người giáo dân này đang thi hành chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của mình?36
Ðáng lẽ phải khai triển và đi tiếp con đường đó, ngõ hầu có thể trả lời cho những thách đố về phúc-âm-hóa trong thế giới hôm nay. Một số người đã sững sờ và ngỡ ngàng khi đọc tài liệu liên bộ về “việc cộng tác giữa giáo dân với giáo sĩ”, ban hành tháng 11 năm 1997. Có người tự hỏi : tại sao một uỷ ban liên hợp của 7 bộ cứ phải loay hoay khổ sở dồn hết tâm lực để xác định xem trong buồng áo và trong nhà thờ phải sắp xếp như thế nào, ai đứng ở đâu, ai được đeo dây các phép ai không, ai có thể cho rước lễ, ai có thể làm phép rửa tội, tuyên uý nhà thương hay nhà tù, chứng kiến bí tích hôn nhân?
Phải chăng đó không là những câu hỏi mà có lẽ chưa tìm ra câu trả lời… thì vấn đề đã trở thành lỗi thời? Câu hỏi căn bản mà thời đại đang đặt ra cho Giáo lại nằm ở một bình diện khác : Giáo hội là gì, để làm gì, cho ai và phải như thế nào? Ðâu là khuôn mặt và sứ mệnh của Giáo hội ở ngàn năm thứ ba? Triệt để hơn nữa, có cần có cần đến Giáo hội hay niềm tin tôn giáo nữa hay không?
Nhân loại đã bước sang “ngàn năm thứ ba”, một thiên niên kỷ mà Sứ điệp của Thượng Hội Ðồng Giám mục Á châu gọi là “kỷ nguyên của giáo dân”. Nhiều người nghĩ rằng để có thể trả lời cho những thách đố của thời đại và chu toàn sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho con người hôm nay, Giáo hội Công giáo phải can đảm làm một chuyển hướng căn bản: cải tổ cơ cấu để mọi thành phần Dân Chúa thực sự tham dự vào sinh hoạt và trách nhiệm về sứ vụ của Giáo hội. Ðã đến lúc giáo hữu, giáo sĩ và tu sĩ phải cùng nhau xây dựng một kỷ nguyên mới, trong đó ba thành phần của Dân Chúa hỗ trợ, bổ túc, tôn trọng đặc sủng của nhau và chân thành cộng tác với nhau ngõ hầu giúp Giáo hội chu tòan sứ vụ Rao giảng Tin Mừng trong thế giới hôm nay.
b)- Trong viễn tượng đó, câu hỏi cuối cùng được đặt ra: đâu là vai trò và sứ vụ của giáo dân Việt Nam? Người giáo dân có vị trí và trách vụ nào trong sinh hoạt cũng như cơ cấu tổ chức của Cộng đồng Công giáo hải ngoại? Ðã thực sự có sự đối thoại chân thành giữa giáo dân và giáo sỹ chưa? Người giáo dân đã ý thức sứ vụ của mình và can đảm lãnh trách nhiệm, hay vẫn tồn tại thái độ phục tùng chỉ biết thụ động chờ lệnh trên, rồi khi không vừa ý cũng chỉ biết ta thán là tại trên không ra lệnh hay không biết dùng người? 37
Nhìn dưới góc độ văn hoá, chữ “giáo dân” hiểu theo là “người dân có đạo” cũng gặp khó khăn và có thể gây ngộ nhận, vì trong thực tế nó thường được dùng theo nghĩa đối lập với “giáo sỹ”. Vô hình trung, không hiểu do duyên nợ nào mà sự phân biệt giữa quan và dân theo truyền thống Nho giáo đã lẻn vào lòng Giáo hội. Từ đó giữa những người có “Ðạo” với nhau, cùng chia sẻ một niềm tin, cùng tôn thờ một Chúa, lại có sự phân biệt cơ bản giữa quan quyền với lê dân.
Người giáo dân Việt Nam rất quý trọng “thánh chức” và yêu mến đời sống tu trì. Ðó là một tâm tình và một món quá rất quý báu mà giáo sỹ nên đón nhận với lòng biết ơn và khiêm tốn. Ðiều bất bình thường là một số linh mục lại viện dẫn “chức thánh của mình” để đòi hỏi được vâng lời và tôn trọng, mà quên đi ý nghĩa phục vụ cộng đoàn Dân Chúa của thừa tác vụ linh mục và tình huynh đệ giữa tất cả các kitô hữu theo giáo huấn của Ðức Kitô và tinh thần của công đồng Vatican II.
Thái độ “trịch thượng” này đã làm cho giáo sĩ trở thành một thứ quan quyền, tách biệt với chúng sinh. Có lẽ vì vậy mà một số người đã ví linh mục với ông quan và cho rằng trong đầu nhiều linh mục vẫn phảng phất hình ảnh một ông quan phong kiến. Không biết thực hư ra sao và giống nhau đến bao nhiêu? Trên thực tế, nghi lễ trao ban thừa tác vụ linh mục thường được gọi là lễ phong chức. Và dĩ nhiên cũng đầy đủ lễ nghi chúc mừng, chiêu đãi, ăn khao. Có nơi cũng rước tân chức... na ná như ngày xưa rước quan trạng về làng. Tại nhiều cộng đoàn Công giáo miền Bắc hoặc gốc miền Bắc, chúng ta gặp thấy vài nét tương đồng khá thú vị. Chẳng hạn song thân của các linh mục thường được gọi là Oâng Bà Cố. Hơn thế nữa, anh chị em của linh mục cũng được “thăng quan tiến chức”, cho lên họ nhà quan. Từ đây được gọi là: quan bác, quan chú, quan cô, quan cậu..38.
Nhìn chung, người giáo dân Việt Nam, ở trong nước cũng như tại hải ngoại, rất có lòng với Giáo hội, chăm lo “giữ Ðạo”, tích cực tham gia vào các lễ nghi phụng vụ, hành hương, rước kiệu, xây dựng thánh đường, nhưng khá thờ ơ đối với sứ vụ rao giảng Tin Mừng và những công tác xây dựng xã hội trần thế theo giáo huấn xã hội của Giáo hội. Não trạng “luỹ tre xanh” vẫn thịnh hành và “óc giáo sĩ trị” vẫn tồn tại ở nhiều nơi. Những người lãnh đạo trong Giáo hội chưa lắng nghe những ý kiến dị biệt phát xuất từ những tấm lòng yêu mến Giáo hội và thiết tha với con người.
Một số người nỗ lực đẩy mạnh người giáo dân tích cực tham gia sinh hoạt cộng đoàn theo hướng đi của Vatican 2. Rất tiếc, vì những lý do khách quan và chủ quan, những cố gắng canh tân đó chưa được đón nhận hay ít nhất chưa đạt được kết quả mong muốn. Cho đến nay phải thành thực thú nhận là cộng đồng Việt nam công giáo chưa đích thực canh tân công tác tông đồ giáo dân theo chiều hướng của Công Ðồng Vaticanô II.
Tại hải ngoại, không biết vì thiếu phối trí từ cấp trên hay vì thái độ “bảo thủ”, thiếu đối thoại của cả đôi bên, cho đến nay cộng đồng Việt nam Công giáo tại hải ngoại vẫn chưa vận dụng được nhân lực và tài lực để hòan thành những nghĩa vụ chung về tôn giáo, văn hóa, giáo dục, xã hội trên tầm cỡ quốc gia và quốc tế, ngõ hầu đưa ra một chương trình mục vụ dài hạn và hỗ trợ cho công cuộc tại quê nhà. Vẫn thịnh hành “óc sứ quân”, nhà ai người đó lo. Do đó, có quá nhiều chương trình manh mún, có thể gọi là “thừa”, “lập lại không cần thiết”, trong khi đó những dự án lớn hay chương trình trung và dài hạn lại không có (chẳng hạn hiện tại không biết có đến bao nhiêu tập san của mỗi giáo xứ, nhưng vẫn chưa có một nhà xuất bản và tập san tầm cỡ của cộng đoàn Việt nam Công giáo hải ngoại?).
Hầu hết những người Việt Nam Công giáo hải ngoại đã nhập tịch vào các quốc gia đang định cư, nhưng có lẽ chưa hội nhập và dấn thân rao giảng Tin Mừng tại “quê hương thứ hai” này. Ða số chương trình mục vụ ược chỉ nhằm duy trì một số hình thức “giữ đạo” cổ truyền tại Việt Nam ngày xưa để đáp ứng nhu cầu tôn giáo của những người lớn tuổi, hơn là nỗ lực giúp giới trẻ hội nhập thành công vào xã hội mới mà vẫn duy trì được bản sắc quê hương. Tương quan giữa giáo dân và giáo sỹ vẫn chưa đuợc đặt lại cho phù hợp với văn hoá và thời đại mới. Việc cộng tác giữa giáo dân và giáo sỹ vì vậy vẫn lủng ca lủng cúng.
Trong thời gian qua, có rất nhiều người đã thành công trong cá lãnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học. Không hiểu tại sao vẫn thường xuyên lặp lại điệp khúc người giáo dân Việt Nam chưa trưởng thành và chưa được đào tạo đúng mức? Ở Âu Mỹ, hầu như nước nào hay tiểu bang nào cũng có Phân khoa hay Học viện thần học và ai cũng có thể ghi danh nhập học, ngoài ra, mỗi năm vẫn có những khoá bồi dưỡng về thần học. Nếu ai muốn nâng cao kiến thức thần học chắc chắn không thiếu cơ hội.
Ðã có người giáo dân trưởng thành chưa và người giáo dân thưởng thành phải như thế nào? Tôi chưa có đủ dữ kiện để trả lời câu hỏi ấy, nhưng thiết tưởng một người giáo dân trưởng thành không thể trông đợi người khác mở đường hay dẫn dắt mình đi. Trái lại, người giáo dân trưởng thành sẽ tự mở đường cho mình và cho cả cộng đoàn. Thái độ thụ động chờ lệnh hoặc tán tụng và kêu la, phải chăng là một biểu hiệu của tình trạng thiếu trưởng thành và không phù hợp với tinh thần của công đồng Vatican II ?
_________________________
[1] Xem Y. Congar, Jalons pour une théologie du laicat, Cerf, Paris, 1953; L’Eglise de saint Augustin à l’époque moderne, Cerf, Paris,1970; K.Rahner & J.Ratzinger, Episcopado y primado, Barcelona, Herder, 1965; J.M. Tillard, L’évêque de Rome, Cerf, 1982; Eùglise d’Eùglises, Cerf, 1987; Ghislain Lafont, Histoire théologique de l’Eùglise catholique, Cerf, 1994; Imaginer l’Eglise Catholique, Cerf, 1995.
2 Gioan XXIII, Loan báo Công đồng, ngày 25 tháng giêng 1959, trong A. & G. Alberigo, Giovanni XXIII profezia nelle fedeltà, Brescia, 1978, tr. 274-278 ;
3 Gioan XXIII, Sắc chỉ triệu tập Công đồng « Humanae salutis », ngày 25-12-1961.
4 Gioan XXIII, Diễn văn khai mạc Công đồng, số 8 & 16.
5 Gioan XXIII, Diễn văn bế mạc khoá I của Công đồng, số 22.
6 Bản văn ngày 24-5-1963, dẫn trong A. & G. Alberigo, sđtd., tr. 494.
7 Cf. Y. Congar, L’Eglise comme Peuple de Dieu, in Concilium 1965/1 ; Lm Thiện Cẩm, Giáo hội, cộng đồng Dân Chúa, Tp. HCM, 1994.
8 L. Suenens, Algunas tareas teológicas de la hora actual, trong Concilium, số đặc biệt (tháng 12 năm 1970), tr. 185.
9 Vatican II, Lumen Gentium, số 9.
10 Ibidem.
11 Ibidem, số 32.
12 Thánh Augustino đã diễn tả một cách sâu sắc sự phân biệt tinh tế này: “Nếu vị thế của tôi cho anh em làm tôi run sợ, thì (ơn gọi) cùng với anh em là niềm an ủi của tôi. Cho anh em tôi là Giám mục và cùng với anh em tôi là Kitô hữu. Giám mục là một chức vụ, Kitô hữu là một ân huệ. Chức vụ Giám mục chỉ mang lại cho tôi những hiểm nguy, trong khi đó, đối với tôi, Kitô hữu đảm bảo ơn cứu độ” (Serm. 340, 1. PL. 38, 1483).
13 Vatican II, Tông đồ giáo dân, số 2.
14 Vatican II, Ánh sáng muôn dân, số 37.
15 Ibidem , số 33.
16 Gaudium et spes, số 43.
17 Tông đồ giáo dân, số 10.
18 Ad Gentes, số 28.