Đức Chúa
Trời là Cha Phép Tắc Vô Cùng Dựng Nên Trời Đất
Bùi Hữu Thư chuyển Ngữ.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă đặt mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm chính của đức tin và đời sống Công Giáo, làm trọng tâm cho sự chuẩn bị của Giáo Hội cho Năm Thánh 2000. Kể từ 1997 Giáo Hội đă hành tŕnh từ Chúa Kitô và qua Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần, để đến với Chúa Cha. Cuộc hành hương thiêng liêng này sẽ có cao điểm là Đại Lễ Mừng Năm Thánh 2000 trong sự ca ngợi Ba Ngôi với một Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế tại La Mă.
Năm thứ ba và là năm cuối cùng của việc chuẩn bị này là năm 1999. Năm này được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cung hiến cho một cuộc nghiên cứu trong chiêm niệm và suy tôn Chúa Cha. Mặc dầu kinh tin kính tuyên dương Chúa Cha trước Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong chiều kích giáo lư, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lại đặt Chúa Cha sau cùng trong ba năm chuẩn bị cho Năm Thánh. Điều này có lư về phương diện thần học, v́ chúng ta, cả Do Thái lẫn dân ngoại, đều chỉ có thể đến với Chúa Cha trong và qua Chúa Con và bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần (Eph 2:18). Như Chúa Giêsu đă nhắc nhở chúng ta: Không ai biết Người Con trừ Chúa Cha, và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho (Mt 11:27; Lc10:22). Muốn biết Chúa Cha chúng ta phải biết và có kinh nghiệm minh nhiên hay tiềm ẩn (explicitly or implicitly) về Chúa Thánh Thần và Chúa Con trước đă.
Trong khi các giáo lư viên dọn bài giảng về Chúa Cha, chúng ta trước hết phải đối diện với câu hỏi: Chúng ta phải nói ǵ về Chúa Cha? Kinh tin kính của các Tông Đồ nói về Chúa Cha như sau: Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, trong khi kinh tin kính Nicêa lại nói: Chúng tôi tin một Thiên Chúa, là Cha, đấng phép tắc vô cùng, đấng tạo dựng đất trời, mọi vật hữu h́nh và vô h́nh. Dĩ nhiên những lời tuyên xưng đức tin về Chúa Cha phải được bổ túc bởi những ǵ chúng ta đă học hỏi về Thiên Chúa qua Thánh Kinh, Truyền Thống, và suy luận. Ngoài ra, ngày nay c̣n có vấn đề chúng ta phải nói thế nào về thần tính nói chung và về Chúa Cha nói riêng. Hiển nhiên là cách thức chúng ta nói về Chúa Cha không thể được tách biệt hoàn toàn với những ǵ chúng ta đă biết về Ngài; tuy nhiên, nội dung và ngôn ngữ là hai vấn đề khác nhau. Cuối cùng, c̣n có vấn đề linh đạo và mục vụ là ở đâu và làm sao dân Chúa có thể có kinh nghiệm về sự hiện diện và t́nh phụ tử của Thiên Chúa trong đời sống hàng ngày. Trong bài này chúng tôi sẽ bàn đến ba vấn đề này nhưng v́ lư do sư phạm chúng tôi sẽ đổi ngược thứ tự tŕnh bầy.
Ngày Nay Chúng Ta Có Kinh
Nghiệm Về Chúa Cha Ở Đâu?
Trước đây không bao lâu chúng ta, để chống lại với các người vô thần, các giáo lư viên và thần học gia đă dành khá nhiều nghị lực để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, và có lẽ đă dẫn chứng Năm Phương Cách của Thánh Tôma, để bảo vệ sự hợp lư của đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa. Chắc chắn là vấn đề lư thuyết của sự hiện hữu của Thiên Chúa vẫn có thể làm cho một số người thắc mắc, và đối với họ, siêu h́nh học vẫn c̣n đóng một vai tṛ hữu ích, ngay trong giai đoạn hậu văn mimnh này. Nhưng đối với đa số mọi người bây giờ, vấn đề chính liên quan đến Thiên Chúa không phải là sự bất hiện hữu của Thiên Chúa, mà là sự vắng mặt hay im lặng của Thiên Chúa. Có rất ít người Do Thái trong số bị tiêu diệt bằng hơi ngạt bởi Đức Quốc Xă; có ít người Mỹ gốc Phi Châu trong số bị đàn áp bởi sự nô lệ; có it' người Cămbuchia trong số bị tàn sát trong Những Thửa Ruộng Sát Nhân (The Killing Fields); có it' người cha, người mẹ và con cái trong số bị giết tại Rwanda và Bosnia; có ít người trong số bị chết đói tại các quốc gia đệ tam, là những người vô thần hay cần có một chứng minh bằng triết học về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Ngược lại, giữa những đau khổ bất công không ai hay biết đó họ vẫn tiếp tục cầu nguyện với Thiên Chúa, ngay cả khi họ la thét lên v́ tuyệt vọng hay giơ tay lên để phản đối cách giận dữ: và chính v́ những người này, với những ǵ c̣n lại của đức tin đă tả tơi, vẫn tiếp tục cầu nguyện trong vực sâu của những đau khổ của họ, và kêu lên với Chúa trong nỗi tuyệt vọng đen tối nhất, mà chúng ta, những kẻ sống sót không xứng đáng, có thể và phải cầu nguyện hôm nay, nếu không lời cầu nguyện của họ sẽ bị quên lăng.
Điều mà các nạn nhân của sự dữ này hăi sợ không phải là sự bất hiện hữu của Thiên Chúa, mà là sự vắng mặt vô lư và cái im lặng chết chóc của Thiên Chúa. Điều làm tan nát đức tin của họ chính là sự kiện Thiên Chúa hiển nhiên hiện hữu nhưng đă không đáp trả lời kêu cứu tuyệt vọng của họ. Và ngay cả những người khá giả đang sống tại các ngoại ô thành phố Hoa Kỳ cũng phản đối lớn tiếng là Thiên Chúa không hiện hữu sau khi họ đă bị tiêu tan sản nghiệp, mang bệnh khó chữa, hay có người thân qua đời. Lời than của họ là Thiên Chúa mà họ tin làcó đă không có mặt để giúp đỡ họ. V́ vậy vấn đề không phải là Thiên Chúa không hiện hữu mà là Thiên Chúa là ai, và ở đâu và làm sao có thể t́m thấy Thiên Chúa?
Vậy th́ thách đố của những ai tham dự vào sứ vụ tông đồ giáo lư là giúp đỡ con người ngày nay cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa. Theo đức tin Công Giáo, quyền năng giúp chúng ta cảm nhận được Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần, và đấng chỉ cho chúng ta biết cách t́m được Thiên Chúa ở đâu là Con Người, Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần có mặt và hoạt động khắp nơi, không những chỉ giữa những người theo đạo Thiên Chúa mà cả những người không theo đạo Thiên Chúa hay không phải là tín đồ. Do đó, bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, kiến thức về Thiên Chúa được đem đến cho tất cả mọi người, dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác, minh nhiên hay tiềm ẩn. C̣n vấn đề ở đâu và làm sao để gặp gỡ Chúa, Chúa Giêsu đă chỉ cho chúng ta bằng chính lời Ngài (đặc biệt là các dụ ngôn), việc làm (nhất là các phép lạ), cái chết và sự sống lại. Liệt kê sau đây chúng tôi không dám cho là đầy đủ hoàn toàn, là những địa điểm và phương cách chúng ta có thể gặp gỡ Chúa qua cuộc đời của Chúa Giêsu:
* trong đời sống gia đ́nh, kinh tế, và chính trị hàng ngày: ăn uống với bạn hữu, nấu ăn, dọn dẹp, một bữa tiệc cưới, một đồng xu đánh rơi, một con chiên lạc, một người con hoang đàng, một ông chủ giầu có thay thế các thực khách bằng người nghèo, mù và què.
* trong những tạo vật tầm thường nhất: cá biển, chim trời, hoa huệ ngoài đồng, một hạt cải, lúa ḿ và cỏ lùng, bánh và rượu.
* trong t́nh yêu thiên vị với người nghèo, người bị áp bức, người bệnh tật, người tội lỗi, đàn bà và trẻ con; trong sự tranh đấu, và liên kết với họ để giải phóng họ.
* trong những lúc một ḿnh cauÁÀ nguyện trên núi hay tại bờ biển; trong các hành động tử tế đối với người lạ và trong sự tha thứ kẻ thù.
* trong đau khổ và cái chết vô tội, ngay cả trong cái chết nhục nhă trên thập giá.
* trong những lúc được bào chũa và vinh thắng vượt qúa sự mong đợi của loài người; trong việc được đưa đến đời sống siêu việt bên kia lănh vực của sự chết.
Trong Tông Thư Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mời gọi chúng ta gặp gỡ Chúa Cha trong năm 1999 trong hành động trở về; trong việc cử hành bí tích thống hối; trong hành động bác ái; trong việc đặc biệt lo lắng đến ngươi nghèo và người bị ruồng bỏ; trong việc giảm thiểu đáng kể, nếu không nói là triệt tiêu, món nợ quốc tế; trong việc tôn trọng nhân quyền của phụ nữ; trong việc cổ vơ cho gia đ́nh và hôn nhân; trong việc nuôi dưỡng một nền văn hóa của t́nh yêu dựa trên ḥa b́nh, liên đới, công lư và tự do; và trong việc đối thoại vói các tôn giáo khác (số 50-53).
Đấng nào là Thiên Chúa màchúng ta gặp gỡ trong những biến cố này của cuộc đời? Sách Giáo Lư Công Giáo (GLCG) nói về Thiên Chúa như một Thiên Chúa hằng sống (số 205), là đấng tự bầy tỏ ḿnh là Ta là Ta đây (số 206-209), là giầu ḷng thương sót vànhân từ (số 210-211), là đấng độc nhất (số 212-213), là chân lư (số 214-217), là t́nh yêu (số 218-221), là đấng toàn năng (số 268-274), là đấng tạo dựng nên những vũ trụ vô h́nh và hữu h́nh (số 279-314).
Chúng Ta phải Dùng Ngôn Ngữ
Nào Để Nói Về Chúa Cha Hôm Nay
Chúa Giêsu không những chỉ bầy tỏ cho chúng ta biết ở đâu và làm sao chúng ta có thể gặp gơ Chúa mà c̣n làm thế nào để nói chuyện với Chúa. Sách thánh Do Thái xử dụng nhiều danh hiệu để mô tả Thiên Chúa. Đặc biệt chữ Cha đă được dùng mười một lần để gọi Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha của Ít-ra-en, Cha của vua, và nhất là Cha của kẻ nghèo, của mẹ goá con côi, là những người được Thiên Chúa ưu ái bảo vệ (2 Sam 7:14, TV 68:6). Theo truyền thống này Chúa Giêsu đề cập đến Thiên Chúa là Cha và dạy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa, Lạy Cha chúng con. Tân Ước đặt chữ Cha trên môi miệng Chúa Giêsu 170 lần.
Hơn nũa, Thánh Kinh Mác cô (14:36) ghi chép rằng Chúa Giêsu, một cách đặc biệt và có lẽ duy nhất, đă gọi Chúa là Abba, một tiếng Aram thân mật và kính trọng có thể được dịch là Ba yêu dấu của riêng con. Trong các truyền thống Thiên Chúa giáo sau này, danh từ Cha trở nên tên riêng được dành đặc biệt cho Đấng mà ngày nay được gọi là Ngôi Thứ Nhất của Ba Ngôi, trong khi Con và Thánh Thần là tên riêng để gọi Ngôi Hai và Ngôi Ba theo thú tự.
V́ vậy, có hai đẳng cấp trong đó chữ Cha được dùng cho Thiên Chúa. Trước hết, đối với chúng ta và vũ trụ được tạo dựng, Chúa là Cha theo nghĩa giải thích bởi cuốn Giáo Lư Công Giáo, Ngài là nguồn gốc trên hết của vạn vật và có uy quyền siêu việt, và đồng thời Ngài là đấng nhân hậu và thương yêu lo lắng cho tất cả các con cái của ḿnh (Số 239). Đẳng cấp thứ hai là mối quan hệ giũa Cha và Con. Ở đẳng cấp này Ngôi Thứ Nhất của Ba Ngôi được gọi là Cha v́ Ngài từ muôn thuở là Cha trong mối tương quan với Con độc nhất của Ngài (GLCG số 240). Cả hai đẳng cấp được nối kết với nhau; chính mối tương quan vĩnh cửu là Con trong t́nh phụ tử này đă được chia xẻ với chúng ta trong lịch sử qua Chúa Giêsu thành Nadarét để bây giờ tất cả chúng ta cũng có thể gọi Người Cha muôn đời này là Cha chúng ta.
Tuy nhiên, trên cả hai đẳng cấp, ngôn ngữ chúng ta dùng, mặc dù được mạc khải và cho phép bởi chính Chúa Giêsu, vẫn luôn luôn là loại suy hay tượng trưng (analogic or symbolic). Nghĩa là, khi khẳng định rằng Chúa là Cha chúng ta, chúng ta cũng đồng thời phủ nhận rằng Chúa là Cha theo cách thức những người cha trần thế hành xử như những người cha. Và cuối cùng, chúng ta quy cho Chúa vai tṛ phụ hệ trong sự bất toàn vô hạn, cho dù chúng ta không biết một người cha hoàn toàn vô hạn phải như thế nào. Thật vậy, có nhiều sự dị biệt hơn là giống nhau giữa vai tṛ làm cha của Thiên Chúa và của người thường. Do đó, khi gọi Chúa là Cha, chúng ta không muốn nói rằng Chúa là người nam cũng như những người cha trên trần thế đều là đàn ông. Như sách GLCG viết: Thiên Chúa vượt trên sự phân biệt nam nữ của con người. Ngài không phải người nam cũng không phải người nữ: Ngài là Thiên Chúa. Ngài cũng siêu việt trên t́nh phụ tử và t́nh mẫu tử của con người, mặc dầu Ngài là nguồn gốc và thước đo của hai t́nh đó: không ai là cha như Thiên Chúa (số 239).
Về thần học, chúng ta biết rằng Chúa không phải người nam, cũng không phải người nữ, nghĩa là Chúa không có phái tính, v́ Chúa không có thân xác mà chỉ là thánh linh vẹn toàn. Tuy nhiên, v́ chúng ta tin rằng Chúa là con người trong trí tưởng tượng của chúng ta, cho nên mặc dầu chúng ta có thể giỏi về thần học, chúng ta vẫn đương nhiên h́nh dung ra Chúa là nam hay nữ, hay cả hai phái tính. Nói cách khác, dù cho Thiên Chuá không có phái tính (sex), Thiên Chúa có giống (gender), nghĩa là phương cách theo đó chúng ta cảm nhận Thiên Chúa là giống đực hay giống cái. Dĩ nhiên, Thánh Kinh và Truyền Thống Công Giáo thông thường miêu tả (nhưng không khẳng định) Thiên Chúa bằng lời hay bằng tác phẩm nghệ thuật là người nam. Nhưng như GLCG đă khẳng định, Sự dịu hiền phụ mẫu của Thiên Chúa cũng có thể được biểu lộ bằng h́nh ảnh của người mẹ (Isa 66:13; TV 131:2), và nhấn mạnh tính nội tại của Thiên Chúa, và sự thân mật giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật (số 239).
V́ trí tưởng tuợng về tôn giáo của chúng ta đă được điều chế từ bao lâu để h́nh dung và để quan hệ với Chúa như người nam, chúng ta cần làm cho trí óc này gạt bỏ được lối xử dụng thuần túy và tổng hợp của h́nh ảnh Thiên Chúa là người nam. Trí óc này cần được chữa trị bằng một h́nh ảnh thuần túy và tổng hợp của bản thân, thế giới, và Thiên Chúa để có thể nên toàn hảo trở lại, để cho trong h́nh ảnh, ngôn ngữ, biểu tượng, cách diễn tả nghệ thuật, và thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta có thể tránh tạo dựng những tượng thần về Thiên Chúa và cấu tạo những cơ chế đàn áp phụ nữ. Đây chính là điều GLCG khuyến khích chúng ta làm trong lời b́nh về chữ thứ nhất của kinh Lạy Cha: Trước khi nhận làm của ḿnh sự phấn khích đầu tiên này của kinh Lạy Cha, tưởng cũng nên khiêm nhường thanh tẩy tâm hồn khỏi một số h́nh ảnh sai lầm của trần gian này. Sự thanh tẩy tấm ḷng sẽ giúp ta gạt bỏ h́nh ảnh người cha hoặc người mẹ xuất phát từ lịch sử bản thân hoặc lịch sử văn hóa, bỏi v́ những h́nh ảnh này có thể ảnh hưởng đến liên lạc giữa ta và Thiên Chúa. Thiên Chúa, Cha chúng ta, siêu việt trên tất cả những phạm trù của vũ trụ thụ tạo. Ướm vào Ngài, hoặc gạt bỏ khỏi Ngài những ư tưởng của chúng ta trong lănh vực này sẽ là tạo ra những thần tượng mà ta muốn thờ lạy hay đạp đổ (số 2779). Trong mối liên hệ này chúng ta cảm thấy thích thú khi ghi nhận rằng Công Đồng Thứ Mười Một ở Toledo (675) đă dùng một h́nh ảnh nữ để điễn tả sự phát sinh vĩnh hằng của Con từ Cha: Chúng ta phải tin rằng Chúa Con được sinh ra mà không phải tạo thánh (genitus vel natus) từ trong ḷng Chúa Cha (de Patris utero), nghĩa là, từ chính bản thể của Ngài, không phải từ hư không hay từ một bản thể nào khác.
Thiên Chuá, Mầu Nhiệm Thánh
Thiện và Yêu Thương
V́ Chúa rất khó thấu đạt và diễn tả, tất cả kiến thức và ngôn ngữ của chúng ta về Chúa cuối cùng th́ cũng thất bại. Thực vậy, như thánh Tôma Aquina đă nói, chúng ta chỉ biết cái mà Chúa là, thay v́ Chúa là ǵ. Điều này cũng đúng đố'i với Chúa Cha, cũng như Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Cuối cùng, tất cả ngôn ngữ của chúng ta về Chúa chỉ là những lời nói ngọng nghịu và phải chấm dút bằng sự thờ phượng trong thinh lặng và tôn vinh tràn đầy kinh sợ trước mầu nhiệm thánh đang bao bọc chúng ta trong t́nh yêu thánh hóa vô bờ bến. Nhưng v́ chúng ta không thể giữ thinh lặng về Chúa trong khi chúng ta c̣n sống, chúng ta phải buả lưới thật xa và rộng để xủ dụng tất cả mọi tài nguyên khiến cho kinh nghiệm con người trong sự phong phú đa dạng có thể làm cho ngôn ngữ chúng ta nói về Chúa ít ra cũng có thể càng ít thiếu sót và sai lạc càng tốt. Đó chính là điều mà Thánh Kinh, Truyền Thống và thần học đă làm. Có lẽ cần đề cập ở đây là những nguồn tài nguyên phong phú nhất và sâu xa nhất của kiến thức chúng ta về Thiên Chúa là những tài liệu viết bởi các nhà thần bí và các thi sĩ cũng như các tác phẩm của các nghệ sĩ, và các tài nguyên này cần được khai phá cho việc dạy giáo lư về Chúa Cha.
Khi nói về Chúa Cha các thần học gia đương thời đă cố gắng làm cho ngôn ngữ cổ truyền về t́nh cha được phong phú hơn bằng cách dùng các biểu tượng, các phép ẩn dụ, và h́nh ảnh. Đôi khi các thành ngữ phi ngôi vị được dùng (thí dụ, Nguyên Tắc không nguyên tắc, Nguồn Gốc không bắt nguồn, Căn Bản của Hữu Thể, Khôn Ngoan [Sophia], Mầu Nhiệm Tuyệt Đối); có lúc khác nhiều thành ngữ có ngôi vị lại được dùng (thí dụ, mẹ, người yêu, bạn hữu). Cần ghi nhận ở đây là những cách mới để chỉ Chúa Cha này không được dùng để thay thế cho cách dùng cổ truyền vễ Chúa Cha, nhưng chỉ là những phương cách phụ để tránh có sự chuyên nhất và phiến diện và để diễn tả các cách thức khác nhau theo đó mọi người cảm nhận và liên hệ với Thiên Chúa.
Để kết luận bài suy niệm về Chúa Cha tôi muốn nêu cao ba nhận thức có thể hữu ích cho những người đă sống trong một thời đại phải chứng kiến những sự dữ khủng khiếp như cuộc diệt chủng người Do Thái và đă trở nên nghi ngờ về khả năng suy luận và cư xử hiền lành của con người. Điều thứ nhất là Thiên Chúa là Mầu Nhiệm. Mầu nhiẹm không có nghĩa là một câu đố tối nghĩa cần được giải đáp nhưng là sự thật của ánh sáng tinh khiết làm chúng ta bị mù loà không phải v́ nó là đêm tối mà v́ đó là ánh sáng chói ḷa. Là ánh sáng u tối hay ánh sáng chói ḷa, Thiên Chúa là điều kiện của sự khả dĩ cho chúng ta có thể biết được một cái ǵ đó. Chính trong ánh sáng của Đêm Tối thiêng liêng này mà chúng ta biết cái chúng ta biết. V́ vậy biết Chúa không phải là để xâm nhập vào và nắm vững khái niệm về Mầu Nhiệm thiêng liêng, nhưng là để phục tùng Thiên Chúa như Mầu Nhiệm của đời sống chúng ta một cách khiêm tốn và yêu thương.
Nhận thức thứ hai là Thiên Chúa là Mầu Nhiệm Thánh Thiện. Là Mầu Nhiệm, Thiên Chúa cư ngụ trong ánh sáng không thể lại gần được. Nhưng là Mầu Nhiệm Thánh Thiện, Thiên Chúa đă âu yếm ban chính Ḿnh cho chúng ta qua Chúa Con và Thánh Thần. Trong qùa tặng của chính Ngài cho chúng ta, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài là mối quan hệ yêu thương. Nhưng Thiên Chúa là mối quan hệ không những chỉ với chúng ta nhưng trên hết là trong đời sống nội tâm và vĩnh cửu của Ngài. Đây chính là căn bản của ư nghĩa khi chúng ta tuyên xưng rằng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là những ngôi vị. Ba ngôi là những ngôi vị v́ có liên hệ vĩnh cửu với nhau: Cha, v́ phát sinh ra Con và phát nguồn ra Thánh Thần; Con, v́ sinh ra bởi Cha và phát nguồn ra Thánh Thần; và Thánh Thần, v́ được phát nguồn đồng thời từ cả Cha lẫn con. Đây là ư nghĩa của câu nói Thiên Chúa là t́nh yêu (1 Ga 4:8, 16). Thiên Chúa là t́nh yêu không những v́ Thiên Chúa yêu thương chúng ta, mà trên hết c̣n v́ có một mối quan hệ yêu thuơng trong chính đời sống của Thiên Chúa.
Nhận thức thứ ba là Thiên Chúa có ḷng trắc ẩn, không chỉ theo ư nghĩa ḷng lành, mà c̣n theo ư nghĩa của sự chịu đựng đau khổ v́ chúng ta và với chúng ta. Mặc dù quyền năng cao cả và bất biến, Thiên Chúa tự do chấp nhận đau khổ và sự chết, v́ yêu thương và để liên kết với chúng ta, nhất là những ai nghèo khó và bị áp bức. V́ ḷng trắc ẩn của Thiên Chúa chúng ta có thể hy vọng là những khổ đau của chúng ta, dù to lớn và vô lư đến đâu, cũng có thể vượt qua v́ chính khổ đau và sự chết đă được đưa vào tận đáy ḷng của Thiên Chúa Ba Ngôi.